[Article] The transformation of Rural Society under the Economic Policies after 1992 in Duc Trong district, Lam Dong province, Vietnam

Honda Mamoru

Phạm Thanh Thôi

Nguồn: Honda Mamoru, Phạm Thanh Thôi, “The transformation of rural society under the economic policies after 1992 in Duc Trong district, Lam Dong province, Vietnam,” (Biến đổi xã hội nông thôn bởi tác động của những chính sách kinh tế sau 1992 ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam),  Annual Journal of the Asia cultures Research Institute No. 50. 2015 (29.2.2016), P.161-182.

 

Giới thiệu

Việt Nam đã gia tăng sự phát triển cho đến ngày nay kể từ khi làm quen với cơ cấu thị trường có được từ chính sách Đổi mới vào năm 1986. Về quan hệ quốc tế, Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1/2007 và sẽ kiến lập nên những tiêu chuẩn chung với hệ thống thương mại thế giới, tiếp tục làm gia tăng sự thay đổi đến đỉnh điểm. Từ năm 1990, các tác giả đã nghiên cứu những người dân canh tác nương rẫy, họ thuộc nhóm người Koho-Cil và Mạ. Nghiên cứu này bàn về sự biến đổi xã hội của họ bởi những tác động ngoại sinh từ thời kỳ thực dân Pháp đến hiện nay qua thời kỳ Đổi mới. Những năm gần đây, các tác giả đã có những nghiên cứu so sánh sự biến đổi trong cấu trúc xã hội của nhóm người Koho-Cil canh tác nương rẫy và nhóm người Koho-Sre trồng lúa.  Qua điền dã, các tác giả nhận thấy sự biến đổi xã hội như là kết quả của những chính sách đến từ sự cải thiện về hệ thống điện, đường, tăng cường thu nhập về tiền mặt ở xã hội nông thôn. Trong một số trường hợp lại là sự tự đánh giá cao về mặt quản lý (hành chính) và nó nhận được sự phê phán của nhiểu nhà nghiên cứu.

Trong báo cáo này, các tác giả sẽ giới thiệu về những phản biện và đánh giá các chính sách để làm rõ sự biến đổi xã hội, đặc biệt là việc sử dụng đất đai  và đưa ra những khuyến nghị về sự thay đổi tâm thức tộc người.

Nội dung chính của bài báo cáo bao gồm phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu;  những biến đổi xã hội được nhận thấy qua những dữ liệu phỏng vấn các cá nhân ở các nhóm Phinom, Kanreo, Cirong và những biến đổi trong quản lý đất đai dưới tác động của cơ cấu thị trường trong cộng đồng người Koho.

No automatic alt text available.

Các tác giả

TS. HONDA Mamoru là nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu văn hóa châu Á thuộc Trường Đại học Toyo, Nhật Bản. Ông có hơn 10 năm quan tâm nghiên cứu về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mon Khmer ở Lâm Đồng, Việt Nam. Kết quả nghiên cứu gần đây được thể hiện rõ trong luận án tiến sĩ “Biến đổi nghi lễ và xã hội của người Cil thuộc dân tộc Cơho ở Việt Nam”, được bảo vệ tại Khoa Xã hội học Trường Đại học Toyo, Nhật Bản và nhiều bài báo khoa học khác.

ThS. Phạm Thanh Thôi là giảng viên Khoa Nhân học, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam  & Đông Nam Á. Ông đã có hơn 10 năm nghiên cứu điền dã tại cộng đồng các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mon –Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam. Là tác giả của một số bài viết đáng chú ý như “Biến đổi xã hội của người Cil ở Lâm Đồng”; “Ranh giới xã hội giữa người Cil và Kơho (Srê) ở Đức Trọng, Lâm Đồng”.

Thành viên quan tâm có thể tại toàn văn tài liệu tại đây hoặc đường dẫn phụ.

 

Continue Reading

[Giới thiệu sách] The New Way: Protestantism and the Hmong in Vietnam

Tam T.T. Ngo (2016) The New Way: Protestantism and the Hmong in Vietnam, Seatle and London: University of Washingtong  Press.

1

Vào giữa những năm 1980, một chương trình phát thanh với một thông điệp tâm linh hấp dẫn được tiếp nhận bởi những thính giả ở vùng cao miền Bắc Việt Nam. Sự truyền đạt Tin Lành Phúc Âm được thực hiện bằng tiếng Hmong bởi Công ty Phát thanh Viễn Đông đặc biệt dành cho những người di cư sang Lào từ thời chiến tranh. Người Hmong ở Việt Nam đã kể về truyền thống của họ với đức tin trông đợi sự cứu rỗi từ vị vua cứu thế người Hmong, người này sẽ dẫn dắt họ thoát khỏi ách cai trị, và họ đã thích nghi với thông điệp phúc âm.

Ngày nay, New Way (Kei Cai Tshiab) có khoảng 300,000 tín đồ ở Việt Nam. Tác giả đã cho thấy sự phức hợp về chính trị trong tôn giáo và những mối quan hệ dân tộc trong bối cảnh Việt Nam đương đại và làm sáng tỏ sự tương tác tăng động giữa quyền lực toàn cầu và địa phương, xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa và hậu xã hội chủ nghĩa, những mặt đối lập của chiến tranh lạnh và hậu chiến tranh lạnh, chủ nghĩa xuyên quốc gia ở người Hmong và sự bành trướng về Phúc Âm được dẫn dắt bởi Hoa Kỳ. (Lời nhà xuất bản)

Công trình nhấn mạnh vào sự biến đổi trong cộng đồng người Hmong. Tác giả không lấy những ý niệm tôn giáo trong quá trình tái cấu trúc những đặc điểm thế giới quan của người Hmong làm những điểm chính để trình bày. Công trình hướng đến việc đặt tôn giáo bên cạnh hệ thống truyền thông liên quan đến sự khuếch đại (elaboration) của cộng đồng người Hmong liên vùng. Những phân tích trong công trình gắn với  cuộc thảo luận về sự xuất hiện đồng thời những khái niệm khác nhau (về thời gian và lịch sử) mà nhờ đó cho phép chúng ta hiểu về “sự tương đồng” (coevalness) ở cộng đồng người Hmong (kể cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ), người Kinh và những lãnh đạo ở Việt Nam, những nhà truyền giáo Thiên Chúa. Sự chối bỏ “sự tương đồng” ở người Hmong là biểu hiện rõ nhất sự phản đối mạnh lại “tình trạng lạc hậu” mà người Hmong buộc bị nhìn nhận bởi những người lãnh đạo chính quyền. Đó là tiến hóa luận trong lý thuyết Marxist đã đặt người Hmong vào trong giai đoạn lạc hậu trước đó trong tiến hóa lịch sử. (Mở đầu , tr.6)

0

Mục lục sách The New Way

Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm (Đại học Havard) nhận xét: “Cuộc đối thoại về Tin Lành Phúc Âm với những thành viên cộng đồng người Hmong tại Việt Nam làm nổi lên trọng tâm những vấn đề: cuộc đối thoại đã đụng chạm đến việc cải đạo và không cải đạo; mối quan hệ giữa mạt thế luận của Tin Lành với niềm tin cứu thế ở người Hmong; sự chuyển đổi của một cộng đồng bên lề trở thành trọng tâm với sự lan tỏa về hình ảnh Hmong thông qua làn sóng phát thành và những cuộc truyền giáo dựa thế Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu dồi giàu tính chất dân tộc học và điêu luyện về lý thuyết, đóng góp quan trọng mở rộng giới hạn nghiên cứu cho nhiều chủ đề.”

tam-t-t-ngo

Ngô Thị Thanh Tâm là nghiên cứu viên Khoa Đa dạng Tôn giáo tại Viện Max Planck, Nghiên cứu về sự đa dạng dân tộc và tôn giáo ở Gottingen, Đức. Bà quan tâm đến những lĩnh vực nhân học về các vấn đề đối thoại tôn giáo, thế kỉ luận (millenarianism), chiến tranh và ký ức xã hội, mạng lưới tôn giáo xuyên quốc gia, di dân và hiện tượng phân tán văn hóa, tôn giáo và truyền thông đại chúng hiện đại.

Những nhà Nhân học Trẻ trân trọng giới thiệu!

Continue Reading

[Sách mới] Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo

“Đặt Nhân học ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và trong mối quan hệ tương tác với các truyền thống Nhân học trên phạm vi toàn cầu, cuốn sách Nhân học ở Việt Nam là một tuyển tập nhiều bài viết tâm huyết của các nhà khoa học Việt Nam, Nhật Bản, Canada và Pháp.

11

Tuyển tập gồm ba phần:

Phần thứ nhất đưa các độc giả trở về với lịch sử hơn 100 năm truyền thống của ngành khoa học Nhân học để thấy được những đóng góp to lớn và rất riêng của các nhà nhân học như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Đức Từ Chi và Viện Viễn đông bác cổ Pháp… đối với sự hình thành và phát triển của chuyên ngành Dân tộc học theo truyền thống Dân tộc học Pháp và truyền thống Dân tộc học Xô-viết, cũng như sự chuyển đổi từ Dân tộc học sang Nhân học ở Việt Nam trong những thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế gần đây.

Phần thứ hai làm rõ thực trạng, vấn đề và triển vọng nghiên cứu của các chuyên ngành của ngành khoa học Nhân học như Nhân học về giới, Nhân học chữ viết, Nhân học sinh thái, Nhân học tộc người cũng như các hướng nghiên cứu về sinh kế, di sản văn hóa… tại Việt Nam.

Phần thứ ba phân tích thực trạng đào tạo và giảng dạy Nhân học, nhận diện những khó khăn và thách thức hiện tồn, thảo luận các giải pháp quảng bá ngành học, nâng cao chất lượng đào tạo Nhân học theo hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế”.

Mục lục:

 

Phần I

Lương Văn Hy
Nhân học: Lịch sử, nghiên cứu về Việt Nam, và đào tạo

Phần I
Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Đức Từ Chi trong nhân học Việt Nam

Phạm Khiêm Ích
Góp phần nghiên cứu nhân học ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế

Olivier Tessier
Những bước đi đầu tiên của dân tộc học ở Việt Nam: Vai trò thúc đẩy của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp trong nửa đầu thế kỷ 20

Ngô Đức Thịnh
Nguyễn Văn Huyên và nghiên cứu văn hóa Việt Nam

Đỗ Lai Thúy
Nhân học văn hóa – Nhìn lại Nguyễn Văn Huyên và từ Nguyễn Văn Huyên nhìn lại

Đinh Hồng Hải
Tri thức bác học của Nguyên Văn Huyên: Dẫn liệu từ Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam

Nguyễn Phương Ngọc
Nguyễn Văn Huyên với việc tổ chức nghiên cứu và đào tạo nhân học (1938-1945)

Nguyễn Mạnh Tiến
Trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20: Trường hợp Nguyễn Văn Huyên đối diện với sự kiện Hát đối đáp

Bùi Xuân Đính
Từ Chi và nghiên cứu về làng xã – Những điều ông dạy học trò

Nguyễn Duy Thiệu
Từ Chi với trường phái dân tộc học đề cao nghiên cứu thực địa

Lê Hồng Lý
Nhà dân tộc học Từ Chi và cách ông dạy học trò

Trần Hữu Sơn
Cá tính Từ Chi trong ứng xử với nghề dân tộc học

Phạm Văn Dương
Tiếp cận nhân học trong trưng bày “Từ Chi – Nhà Dân tộc học” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Phần II
Một số vấn đề nghiên cứu

Kato Atsufumi
Những đặc điểm của nhân học về Việt Nam ở Nhật Bản

Nguyễn Thu Hương
Nhân học về giới ở Việt Nam từ khi Đổi mới

Phan Phương Anh
Nhân học chữ viết: Lịch sử, cách tiếp cận và triển vọng ở Việt Nam

Nguyễn Công Thảo
Nhân học sinh thái ở Việt Nam: Hai giai đoạn, một con đường

Lý Hành Sơn
Nhân học về người Dao ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

Nguyễn Ngọc Thanh
Quy ước sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Dao ở Việt Nam

Sarah Turner và Jean Michaud
Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt – Trung

Nguyễn Thị Thanh Bình
Một số vấn đề trong nghiên cứu hôn nhân xuyên biên giới ở Việt Nam

Đinh Thị Thanh Huyền
Sáng tạo lại truyền thống và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam: Trường hợp Quan họ Bắc Ninh

Phạm Văn Lợi
Một số vấn đề trong nghiên cứu về nhà ở của các tộc người ở Việt Nam

Phần III
Đào tạo và giảng dạy nhân học: Thực tiễn và gợi mở

Vương Xuân Tình
Một số đổi mới theo hướng ngành nhân học ở Viện Dân tộc học (2000 – 2015)

Nguyễn Văn Sửu
Vấn đề tộc người trong định hướng phát triển của Khoa Nhân học ở Đại học Quốc gia Hà Nội

Huỳnh Ngọc Thu
Một số vấn đề về đào tạo đại học ngành nhân học ở Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Trường Giang, Thạch Mai Hoàng, Lương Thị Minh Ngọc
Một số gợi ý giảng dạy học phần Nhân học đại cương

Nguyễn Văn Tiệp
Nhân học ứng dụng và việc giảng dạy, nghiên cứu nhân học ứng dụng ở Việt Nam

Ngô Thị Phương Lan
Hội nhập quốc tế và tính địa phương trong giảng dạy Nhân học kinh tế ở Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: NXB Tri Thức (8/12/2016)

Continue Reading

[Sách mới] Điêu khắc Thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á

Quyển sách Điêu khắc Thần Vishnu và Shiva trong văn hóa Đông Nam Á hình thành từ luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học của TS. Phan Anh Tú.  Đây là sách chuyên khảo hình thành từ luận án, có bổ sung, sửa chữa. Nhà xuất bản Đại học Quốc gia TP HCM cũng đã tiến hành các thủ tục mời chuyên gia đọc thẩm định độc lập theo quy trình xuất bản sách chuyên khảo và đã nhận được những phản hồi tích cực.

fb_img_1481125543214

Những kết quả nổi bật của công trình nghiên cứu này là việc giải mã ý nghĩa văn hóa, khảo cứu các sưu tậpvà hiện vật tiêu biểu có nguồn gốc từ các vương quốc cổ ở Việt Nam, Campuchia, Indonesia và Thái Lan cùng với việc tham khảo thành tựu của những công trình trước tác. Tất cả đã giúp tác giả hoàn thành công trình nghiên cứu mà bạn đọc đang có trong tay.

Trong công trình này, tác giả đã thành công trong việc miêu tả chi tiết, đầy đủ các chủ đề, khía cạnh liên quan đến thần Vishnu và Shiva dưới nhiều góc độ (mà quan trọng hơn cả là nghệ thuật điêu khắc và ý nghĩa tôn giáo), những ảnh hưởng của hai vị thần này trong lịch sử nghệ thuật, văn hóa của các quốc gia Đông Nam Á. Đồng thời phân tích mối quan hệ giao lưu giữa các trung tâm văn hóa với nhau . Từ đó, tác giả nêu lên nhận định của mình nhằm làm sáng tỏ ý nghĩa văn hóa của hình tượng thần Vishnu và Shiva. Qua sự miêu tả chân thực và khách quan, cùng với nguồn tư liệu dồi dào, người đọc có những hiểu biết chi tiết với những đặc điểm về chủ đề, chất liệu, phong cách, ý nghĩa tôn giáo, văn hóa của điêu khắc thần Vishnu và Shiva cũng như các nhân vật, hiện vật gắn liền với họ ở một số quốc gia Đông Nam Á cụ thể.

Từ các hiện vật điêu khắc, tác giả mở rộng biên độ phân tích, so sánh về đời sống của cư dân Đông Nam Á, thông qua việc nhận diện quá trình tiếp nhận và chuyển đổi hình tượng thần Vishnu và Shiva theo nhận thức riêng của từng tộc người và từng bối cảnh lịch sử dựa trên nền tảng của văn hóa bản địa. Theo tác giả, đặc điểm của kiến trúc Vishnu và Shiva giáo luôn phải xây dựng theo mẫu hình vũ trụ luận mà ở Đông Nam Á nó lấy cảnh quan môi trường bản địa làm tiêu chí như ngọn núi/đồi, dòng sông, biển, hồ nước, con suối và cánh đồng. Tuy có sự thay đổi hình tượng linh vật, vật biểu tượng và trang phục của thần Vishnu và Shiva, hay khuôn mặt thần linh theo nhân chủng bản địa của từng tộc người nhưng hình tượng thần Vishnu và Shiva về cơ bản vẫn tuân thủ những nguyên tắc tạc tượng kinh điển theo sách Shilpashatra của Ấn Độ khi thể hiện các dấu hiệu riêng của thần, vật cưỡi và bảo vật cầm tay. Mặc dù có sự khác biệt ở thời điểm tiếp nhận tôn giáo Ấn Độ của các quốc gia Đông Nam Á nhưng tất cả đều phản ánh nét tương đồng trong điêu khắc. Hầu hết các tác phẩm điêu khắc về Vishnu và Shiva ở Đông Nam Á đều lấy cảm hứng từ đề tài thần thoại và truyền thuyết Bà La Môn giáo. Tượng Vishnu và Shiva trong điêu khắc Đông Nam Á thường phản ánh quan niệm triết học Ấn Độ, trong đó Vishnu và Shiva là những vị thần hiện thân cho Đại vũ trụ.

6

5

4

3

Một số phong cách tượng Bà La Môn giáo trong luận án

Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra trong nghệ thuật Đông Nam Á, mối quan hệ giữa tượng Vishnu, Shiva với ngôi đền luôn gắn bó mật thiết, khắng khít và không thể tách rời nhau. Ngoài yếu tố thẩm mỹ, tượng thần còn làm tăng thêm tính thiêng liêng cho ngôi đền, thể hiện chức năng giáo dục và củng cố niềm tin tôn giáo cho các tín đồ. Những tác phẩm điêu khắc thần Vishnu và Shiva trên đã thể hiện tài năng, trí tuệ, sự sáng tạo mang bản sắc của cư dân bản địa Đông Nam Á.

7

8

9

Một số kiến trúc, đền đài được thể hiện

Chúng tôi cũng xin lưu ý bạn đọc rằng đây là sách chuyên khảo, phản ánh quan điểm của tác giả vốn là người nghiên cứu lâu năm trong lĩnh vực văn hóa Đông Nam Á. Chính vì vậy, cuốn sách này phù hợp cho những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy trong các trường đại học, viện nghiên cứu hoặc tự nghiên cứu. Rất mong bạn đọc tiếp nhận công trình nghiên cứu này trong tinh thần khoa học, khách quan và có những góp ý đối với tác giả.

Mục lục sách:

fb_img_1481125521412

fb_img_1481125529368

fb_img_1481125534777

Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Nguồn: Phòng Quản lý Khoa học – Dự Án (8/12/2016)

Continue Reading

[Ebook] Claude Lévi-Strauss: The Other Face of the Moon

Mặt khác của trăng là tập hợp những bài viết của Claude Lévi-Strauss về văn hóa, văn minh Nhật Bản. Công trình được xuất bản bằng tiếng Pháp  L’Autre Face de la lune vào năm 2011 và được chuyển ngữ sang tiếng Anh The Other Face of the Moon bởi  Jane Marie Todd năm 2013.

16241542-_uy400_ss401_
Lời mở đầu, Junzo Kawada (2011, 2013) đã giới thiệu Lévi-Strauss đã có năm chuyến đi đến Nhật Bản vào giai đoạn 1977 đến 1988. Trong phiên bản tiếng Nhật quyển Nhiệt đới buồn, Strauss đã đề cập: “Không có một một ảnh hưởng nào sớm hơn đóng góp vào việc đào tạo tri tuệ và đạo đức của tôi như nền văn minh Nhật Bản.”

Đối với Lévi-Strauss, Nhật Bản chiếm một vị trí độc đáo trong số các nền văn hóa thế giới. Được hun đúc trong quá khứ xa xưa bởi ảnh hưởng của Trung Quốc, gần đây Nhật Bản đã kết hợp nhiều phong thái từ châu Âu và Hoa Kỳ. Nhưng bản chất của những vay mượn này đã được đồng hóa rất cẩn thận mà văn hóa Nhật Bản không bao giờ mất đi đặc trưng của nó. Như thể nhìn từ phía ẩn của mặt trăng, Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ, tất cả đều có thể đượcc tìm thấy ở Nhật Bản, hình ảnh của các châu lục được chuyển hóa một cách sâu sắc.

C.L.Strauss cũng viết: “Để sống ở hiện tại, người ta không cần phải ganh ghét và đào thải quá khứ; và không có một thành tựu văn hóa nào đáng để mang danh nếu như nơi chốn của nó không mang lấy tình thương và lòng tôn kính cội nguồn”. (The Other face of the Moon, 2013, tr. xi)

capture

Qua hội thảo vào ngày 15/11/2016, tạị Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace Hà Nội, Việt Nam sẽ đón nhận phiên bản Việt Mặt khác của trăng: khảo luận về Nhật Bản trong tháng 12/2016. Sách được dịch giả Nguyễn Duy Bình chuyển ngữ.

Những nhà Nhân học trẻ cung cấp ấn bản Anh (2013) và Pháp (2011) của “Mặt Khác của Trăng”: link1 (E, 2013) và link2 (F, 2011).

Continue Reading

[Giới thiệu sách] Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam: Các con vật linh

white

Các con vật linh là công trình tiếp nối tập 1: Các bộ trang trí điển hình và tập 2: Các vị thần thuộc bộ sách Những biểu tượng đặc trưng trong văn hóa truyền thống Việt Nam của TS. Đinh Hồng Hải.

08003040_anh-chicago

Đinh Hồng Hải là Tiến sĩ Nhân học văn hóa, hiện đang công tác tại Khoa Nhân học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội. Ông cũng là tác giả của Nghiên cứu biểu tượng: Một số hướng tiếp cận lý thuyết (2014). Ông quan tâm chuyên sâu về các lĩnh vực: Nghiên cứu biểu tượng, kí hiệu học và nhân học biểu tượng.

fb_img_1478566758014

Trong lịch sử văn hóa Việt Nam kể từ giai đoạn nhà Nguyễn trở về trước hầu như không tồn tại thuật ngữ vật linh mà chỉ có linh vật (tiếp thu từ tiếng Hán) và vật thiêng (trong tiếng Việt có hàm nghĩa tương tự linh vật). Vật thiêng có thể là con vật, đồ vật, binh khí, pháp khí, đồ tế tự, gốc cây, tảng đá hay những sự vật, hiện tượng có sẵn trong tự nhiên như mưa, gió, sấm, chớp. Thậm chí là một không gian thiêng có giới hạn (như một ngôi đền, miếu) hoặc một không gian thiêng không giới hạn bằng các ranh giới cụ thể như vùng đất thiêng – holy land. Thuật ngữ vật linh chỉ mới xuất hiện gần đây trong không gian học thuật của thế kỷ 20 – khi Việt Nam bắt đầu tiếp thu nền khoa học nước ngoài, đặc biệt là ở các nghiên cứu về dân tộc học, nhân học .

Đinh Hồng Hải, 2016

capture1

capture2

Ảnh: Văn Hóa Miền Trung

Có thể hạ tải và tham khảo Lời giới thiệu đầy đủ của sách trên trang nhà của tác giả hoặc tải tai-day

 

Continue Reading

[New Publication] Luxury and Rubble: Civility and Dispossession in the New Saigon

This book is about Phú Mỹ Hưng and Thủ Tiêm, two master-planned urban development projects located on either side of the Phú Mỹ Bridge. My primary aim is to show how large-scale urban infrastructure projects become entangled with the lives and aspirations of people living in a rapidly growing city, and to show the role these projects play in the complex political and economic dramas taking place in an urban world increasingly driven by the market logics of real estate development. (Erik Harms)

event_31802_original

Erik Harms is a social-cultural anthropologist specializing in urban anthropology, Southeast Asia, and Vietnam. Luxury and Rubble is published in 2016 as his last publication of Vietnam urbanization. He is also  the author of Saigon’s Edge: On the Margins of Ho Chi Minh City (2011).

9780520292512

capture2

Visit here to download  free ebook of this title or contact with us.

Continue Reading

Vietnam: One-Party State and the Mimicry of Civil Society

myprofile-image

John Kleinen (Ảnh: http://www.uva.nl)

Are the issues of civil society, “good governance”, and the role of NGOs in Vietnam part of a discursive discourse that is linked to a growing development industry in which development studies and economics dominate? Kleinen questions these issues based upon longitudinal research in Vietnam since the early 1990s. In this study, an effort is made to explain the concrete interactions between authorities of the Vietnamese one-party state and its citizens by introducing an attitude of participants to concea their real intentions with the intent to disguise their actions in order to obtain benefits for their own. Using the concept of mimicry the author tries to grasp what it means to live in a society where political and economic life is dominated by elite groups and were social change is coming from different directions.

Two case studies are presented here: one in which local stakeholders of home stay tourism achieve their goals to develop an acceptable form of co-habitation with ethnic minorities without questioning the state. Another case study focuses upon the rapid urbanization of the periphery of Hanoi where land grabbing and private economic gains of outsiders are at loggerheads with local experiences and perceptions of state-village relationships. The question remains what it means for Vietnam’ modernization and the prospects of a civil society.

John Kleinen is a retired associate professor in anthropology and history at the University o Amsterdam. He is specialized on Vietnamese studies and visual anthropology. He published a number o books, among these, Facing the Future, Reviving the Past. A study of Social Change in a Northern Vietnamese Village (1999) and Pirates, Ports and Coasts in Asia (2010). Recently he contributed to a special issue of the academic review Moussons on Vietnamese intellectuals (1858-1954).

a1

Visit link 1 or link 2 to download free article of this title or contact with YVA link.

Continue Reading

Sinh hoạt khoa học tại Khoa nhân học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hà Nội

seminar-hanoi-in-photographs-poster

 

THÔNG BÁO THAY ĐỔI ĐỊA ĐIỂM TỔ CHỨC SEMINAR

Kính gửi các nhà khoa học, các thày cô và các bạn sinh viên,

Theo sắp xếp của nhà trường, địa điểm tổ chức seminar “Hà Nội qua hình ảnh” ngày 10 – 10 – 2016 sẽ chuyển từ Phòng Hội thảo tầng 2 nhà H sang Phòng Hội thảo 302, tầng 3 nhà E, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

Thời gian vẫn là 14h30 đến 16h30.

Khoa Nhân học xin chân thành xin lỗi các nhà khoa học, các thày cô và các bạn sinh viên về sự bất tiện này.

Continue Reading