Sinh hoạt khoa học tại Khoa nhân học, ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Hà Nội

seminar-hanoi-in-photographs-poster

 

THÔNG BÁO THAY ĐỔI ĐỊA ĐIỂM TỔ CHỨC SEMINAR

Kính gửi các nhà khoa học, các thày cô và các bạn sinh viên,

Theo sắp xếp của nhà trường, địa điểm tổ chức seminar “Hà Nội qua hình ảnh” ngày 10 – 10 – 2016 sẽ chuyển từ Phòng Hội thảo tầng 2 nhà H sang Phòng Hội thảo 302, tầng 3 nhà E, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.

Thời gian vẫn là 14h30 đến 16h30.

Khoa Nhân học xin chân thành xin lỗi các nhà khoa học, các thày cô và các bạn sinh viên về sự bất tiện này.

Continue Reading

Harvard Academy Scholars Program in USA 2016/17 (Fully Funded)

unnamed

Deadline: October 1, 2016
Location: USA

Fully Funded !!

Overview:

This program is open to all recent PhD recipients and doctoral candidates.

The Academy Scholars Program identifies and supports outstanding scholars at the start of their careers whose work combines disciplinary excellence in the social sciences (including history and law) with a command of the language, history, or culture of non-Western countries or regions. Their scholarship may elucidate domestic, comparative, or transnational issues, past or present.

Continue Reading

Việc ủng hộ tư liệu và phương châm tư liệu mở của nhanhoc.org

VIỆC ỦNG HỘ TƯ LIỆU VÀ PHƯƠNG CHÂM TƯ LIỆU MỞ CỦA CƠ SỞ DỮ LIỆU NHANHOC.ORG

Hiện cơ sở dữ liệu (CSDL) của website nhanhoc.org đang tăng lên từng ngày. Trong vòng ba ngày qua, đã có hơn 30.000 đầu tài liệu được đưa vào CSDL để mọi người có thể tự do sử dụng cho mục đích học tập và nghiên cứu. Dự tính hàng chục ngàn đầu sách sẽ được đưa lên trong vòng tháng 9. Đến cuối năm nay khi chúng tôi hoàn thiện hệ thống kĩ thuật giúp việc đưa sách và xử lý sách vở nhanh hơn, thư viện sẽ đạt đến con số 1 triệu đầu sách và tạp chí. 

Từ ngày mùng 01 tháng 09 năm 2016, CSDL đã chính thức đưa vào hoạt động như kế hoạch.

Khác với các CSDL vị lợi nhuận, chúng tôi không thiết lập bất kì trở ngại kĩ thuật nào khiến người dùng gặp khó khăn trong tiếp cận và download tư liệu. Tất cả hết sức dễ dàng, người dùng chỉ cần một số điện thoại và email của website nhanhoc.org là có thể hoàn toàn làm chủ CSDL.

Chúng tôi nhận thấy rằng học giả Việt Nam hoàn toàn thất thế trong việc tiếp cận tư liệu nghiên cứu cập nhật do bởi rào cản tài chính, chính sách, tình trạng phong bế dữ liệu của nhiều cơ quan nghiên cứu, và tâm lý “hơn thua” trong nghiên cứu dựa trên đặc quyền sử dụng tư liệu.

Chúng tôi muốn tạo ra một môi trường hoàn toàn mở cho việc tiếp cận tri thức nhằm thay đổi thực trạng này với niềm tin rằng việc tiếp cận tư liệu nghiên cứu hoàn toàn miễn phí sẽ giúp cải thiện tình hình và thậm chí, thay đổi cách thức vận hành các thiết chế đào tạo, nghiên cứu ở Việt Nam.

Vì thế chúng tôi mong mỏi rằng, nếu bạn tin tưởng vào việc chia sẻ miễn phí và hào phóng dữ liệu nghiên cứu có thể cải thiện môi trường học tập và nghiên cứu ở Việt Nam, xin các bạn hãy gửi tư liệu các bạn muốn chia sẻ cho chúng tôi. 

MỘT SỐ LƯU Ý:

1. Về việc đặt tên tài liệu gửi tặng

Hiện giờ tuy rằng chúng tôi đã trả tiền cho một nhân viên làm việc theo giờ hành chính chỉ chuyên để sắp xếp và chỉnh lý tư liệu nhưng do lượng dữ liệu quá lớn nên một ngày chỉ xử lý được khoảng hơn 4000 đầu sách. Để tiết kiệm thời gian và công sức của dự án, nếu có thể, mong các bạn đặt tên file theo định dạng sau

Tên tác giả (năm) Tên tài liệu
Ví dụ: Trần Văn Quế (1968) Sư phạm lý thuyết

Trong trường hợp các bạn quá bận, xin cứ gửi file sách thô cho chúng tôi, chúng tôi sẽ bố trí nhân lực chỉnh sửa và đưa lên cơ sở dữ liệu trong thời gian sớm nhất có thể.

2. Về cách thức gửi tư liệu ủng hộ:

Thông qua email: thuvien@nhanhoc.org và CC email: anh@edu.ac.vn
Các bạn có thể share folder sách cho chúng tôi ở địa chỉ:
Google Drive: thuvien@nhanhoc.org, anh@edu.ac.vn
Ngoài ra có thể gửi cho chúng tôi bằng bất cứ phương tiện gì các bạn đề xuất. Xin liên hệ qua email youare@poorlike.me nếu các bạn có bất kì yêu cầu gì

3. Xin các bạn đừng ngại gửi bất kì tư liệu nào cho chúng tôi kể cả những tư liệu phổ biến nhất. Chúng tôi đã phát triển thuật toán để tự gạn lọc những tư liệu trùng lặp, giống nhau trên cơ sở dữ liệu.

4. Về cách thức hoạt động và vấn đề bản quyền.

Cơ sở dữ liệu của chúng tôi hướng đến việc tạo BẢN SAO của TOÀN BỘ những website tư liệu sách ở public domain (ví dụ những tư liệu hết hạn bản quyền đưa lên archives của Microsoft, Google, Thư viện Quốc gia Hà Nội, Thư viện Quốc hội Mỹ) để đóng thành file PDF cho người dùng có một cơ sở tra cứu TẬP TRUNG chứ không phải lướt qua hàng trăm website một lúc để tìm 1 tư liệu. Framework của chúng tôi sẽ cố gắng gom hết tất cả các dữ liệu này và lưu trữ ở một nơi.

Một số website chúng tôi sẽ làm bản sao:
http://nlv.gov.vn/
hoặc
https://books.google.com
hoặc
https://archive.org/details/msn_books

và hàng loạt các website chia sẻ sách khác của Việt Nam cũng như thế giới.

Đối với những tư liệu mới xuất bản 50 năm gần đây. Tuy rằng chúng tôi đều có trong tay phiên bản toàn văn nhưng vì vấn đề bản quyền, chúng tôi sẽ tính đến những hình thức chia sẻ nội dung một cách khác hoàn toàn hợp lệ. Chúng tôi sẽ đảm bảo ko một tư liệu bản quyền nào được phép lọt ra ngoài phạm vi chia sẻ ngoài nhóm những người sở hữu email x@nhanhoc.org. Đó là lí do chúng tôi buộc người dùng phải có tài khoản email x@nhanhoc.org và một số điện thoại để định danh. Hình thức này giống hệt việc một ai đó bất kì gắn 1 file PDF vào email và gửi vào hòm thư của bạn mình để chia sẻ thông tin. 

Nếu có gì chúng tôi chưa thực sự hiểu biết thấu đáo, rất mong nhận được ý kiến góp ý của mọi người.

XIN CHÂN THÀNH CẢM ƠN

Continue Reading

Nguyễn Quỳnh Trâm, LATS, Văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành ở Tỉnh Lào Cai

Capture

[Nguồn: http://www.gass.edu.vn/Uploads/File/2016/4/Tom%20tat%20Tram.pdf]

Ngày 20 tháng 5 năm 2016, tại Học viện Khoa học xã hội, Số 477, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Nghiên cứu sinh Nguyễn Quỳnh Trâm đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Nhân học, Mã số: 62 31 03 02 với đề tài “Văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành ở tỉnh Lào Cai”. Dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS. Phạm Quang Hoan và TS. Đậu Tuấn Nam.

Việt Nam là một quốc gia thống nhất và đa dạng tộc người. Người Hmông là một trong 54 thành phần dân tộc ở Việt Nam với những nét văn hóa đặc sắc, có giá trị. Việt nam cũng là một quốc gia đa tôn giáo, trong đó có đạo Tin lành. Sau một thời gian du nhập và phát triển, đạo Tin lành đã được Nhà nước công nhận và hoạt động bình thường, ổn định, tuân thủ đúng pháp luật.

Một trong những tín đồ theo đạo Tin lành ở Việt Nam là người Hmông. Đạo Tin lành là một trong những yếu tố tác động đến văn hóa của người Hmông. Dưới ảnh hưởng của đạo Tin lành văn hóa truyền thống của người Hmông đã có sự chuyển biến, thay đổi rõ rệt. Và, đạo Tin lành đã góp phần tạo nên một nét mới trong văn hóa của dân tộc Hmông nói chung và người Hmông ở tỉnh Lào Cai nói riêng. NCS lựa chọn địa bàn nghiên cứu là tỉnh Lào Cai xuất phát từ thực tế người Hmông ở Lào Cai khá đông, đứng thứ 2 sau người Kinh; trong đó số lượng người Hmông theo đạo Tin lành có mặt ở hầu khắp trong tỉnh; và Tin lành đã trở thành thực thể trong đời sống xã hội.

Bên cạnh đó, tỉnh Lào Cai có một vị trí địa chính trị, địa văn hóa đặc trưng chính vì vậy việc người Hmông theo Tin lành có ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển văn hóa – xã hội, an ninh – quốc phòng.

Những đóng góp mới của Luận án

Luận án cung cấp những nhận thức mới về bản chất của sự chuyển đổi từ văn hóa, tín ngưỡng truyền thống sang đạo Tin lành; văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành đặt trong sự so sánh với văn hóa truyền thống của người Hmông ở tỉnh Lào Cai. Đây cũng là cơ sở để tiếp cận tư liệu và luận giải trong nghiên cứu so sánh giữa truyền thống và hiện đại của bộ phận người Hmông theo và không theo đạo Tin lành ở tỉnh Lào Cai.

Cung cấp cho ngành Nhân học những tư liệu toàn diện, có hệ thống và cập nhật về các vấn đề liên quan đến đạo Tin lành và văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành. Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên tiếp cận dưới góc độ Nhân học để phân tích, đánh giá quá trình truyền bá/ du nhập đạo Tin lành, tiểu dạng văn hóa mới (gồm: Văn hóa vật chất như ẩm thực, trang phục, nhà cửa. Văn hóa xã hội như mối quan hệ gia đình, dòng họ, cộng đồng, mối quan hệ đồng đạo, vai trò của người có uy tín. Niềm tin tôn giáo. Văn hóa lối sống ) hình thành trong lòng văn hóa tộc người Hmông ở tỉnh Lào Cai.

Trên cơ sở so sánh giữa văn hóa của người Hmông theo đạo Tin lành và văn hóa truyền thống của người Hmông, luận án đã phân tích làm rõ sự tương đồng và khác biệt về văn hóa của hai nhóm Hmông (theo đạo Tin lành và không theo đạo); đồng thời chỉ ra những yếu tố tích cực và hạn chế. Đây chính là luận cứ khoa học góp phần cho các cơ quan chức năng tham khảo nhằm hoạch định, cụ thể hóa việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống ở người Hmông nói riêng, các dân tộc thiểu số nước ta nói chung trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay.

Luận án được 7/7 thành viên Hội đồng nhất trí thông qua.

Continue Reading

[Kimberly Kay Hoang] Nữ tiến sĩ và 5 năm xâm nhập thế giới mại dâm ở Sài Gòn

Nữ tiến sĩ và 5 năm xâm nhập thế giới mại dâm ở Sài Gòn

Nữ tiến sĩ Mỹ gốc Việt Kimberly Kay Hoang đã dành 5 năm hóa thân thành cô gái phục vụ quán bar để tìm hiểu về hoạt động lẫn vai trò của mạng lưới mại dâm đầy phức tạp ở TP HCM.

Tối một ngày hè năm 2006, Kimberly trở về nước với ý định tìm hiểu về thị trường mại dâm ở TP HCM. Khi đó, cô chưa rõ nên bắt đầu từ đâu, như thế nào. Cách của cô rất đơn giản: bước vào một quán bar, bày tỏ ý định nghiên cứu với chủ quán, hy vọng những cô gái làm việc ở đây sẽ chia sẻ câu chuyện của mình.

Kimberly nhận được cái lắc đầu, đó là điều nằm trong dự tính. Đem việc này kể với một cậu bạn làm pha chế, anh ta khuyên Kimberly nên đến tìm hiểu từ các ông xe ôm thường quanh quẩn ở những khách sạn cao cấp trong trung tâm Quận 1. Nghe theo lời khuyên, Kimberly đã được “mở mang” tầm hiểu biết về giới làng chơi ngầm ở TP HCM phức tạp như thế nào, qua một cuốc xe ôm thâu đêm với giá khoảng 400.000 đồng.

“Tôi không muốn chỉ tìm hiểu một cách qua loa, mà tôi muốn đào sâu tìm hiểu, trò chuyện với những cô gái trong nghề này, và cả những nhu cầu, động cơ của khách hàng khi tìm đến các cô ấy”, Kimberly nói với phóng viên Zing.vn.

Nu tien si va 5 nam xam nhap the gioi mai dam o Sai Gon hinh anh 1
Tiến sĩ Kimberly Kay Hoang (33 tuổi) đang giảng dạy tại Đại học Chicago. Ảnh: uchicago

Để có thể đạt được mức độ tin cậy, cảm thông, Kimberly quyết định vào vai và thực hiện những công việc hàng ngày của những cô gái quán bar trong 23 tháng và kéo dài 5 năm (từ 2006 đến 2010). Tổng cộng, cô đã thực hiện 146 cuộc phỏng vấn với các cô gái, 117 cuộc phỏng vấn với những nam khách hàng, 8 buổi trò chuyện với “má mì” và 5 buổi với những người chủ quán bar.

Theo Kimberly, phần lớn những nghiên cứu về mại dâm ở Việt Nam chủ yếu tìm hiểu các cô gái bắt khách dọc đường. Chưa có nghiên cứu nào thâm nhập sâu vào đời sống của những cô gái quán bar, nên những cố vấn của cô tại các trường đại học Việt Nam cũng đắn đo khi đưa ra lời khuyên về cách thức tiếp cận.

Hóa thân và xây dựng lòng tin

Trong những năm “nhập vai”, Kimberly đã làm việc tại 4 quán bar, từ cao cấp, trung lưu đến bình dân, phục vụ cho 4 đối tượng khác nhau. “Tôi phân loại các quán bar dựa trên 4 nhóm đối tượng khách hàng. Nhóm đầu tiên chính là nhóm cao cấp nhất, bao gồm các đại gia người Việt và những đối tác làm ăn châu Á của họ. Nhóm thứ hai là những người đàn ông Việt kiều, nhóm thứ ba là những doanh nhân và người nước ngoài làm việc tại Việt Nam. Nhóm cuối cùng, cũng là nhóm bình dân nhất chính là ‘Tây ba lô’”, cô nói.

Nơi đầu tiên Kimberly được chấp nhận làm việc là quán bar chuyên phục vụ đàn ông Việt kiều. Chủ nơi này cũng là một Việt kiều, anh ta đồng tình với những quan tâm của Kimberly, cũng như thông cảm với hoàn cảnh một cô gái gốc Việt từ Mỹ đơn độc về Việt Nam.

“Anh ấy che chở tôi như em gái, giới thiệu tôi với một số người phân phối bia, rồi họ lại giới thiệu tôi cho một số chủ quán bar khác… Mối quan hệ này dẫn tới mối quan hệ khác, cuối cùng tôi được vào làm tại một quán bar chỉ chuyên phục vụ những đại gia Việt Nam, có thể nói là tầng lớp giàu nhất”.

Những cuộc phỏng vấn diễn ra ở hậu trường, trong giờ “thấp điểm” khi các cô gái đang ngồi chờ khách đến. Đối với “khách hàng”, cuộc trò chuyện có thể diễn ra ngay tại quán bar, quán cà phê, hoặc một nơi gần cơ quan của họ.

Nu tien si va 5 nam xam nhap the gioi mai dam o Sai Gon hinh anh 2
Ảnh minh họa: AFP

Tại những quán bar mà Kimberly làm việc, cô không giấu giếm thân phận mà luôn nói rõ mục đích nghiên cứu của mình. “Thoạt đầu, các cô gái tỏ ra ngạc nhiên. Vì sao một người có học vị và điều kiện như tôi lại tìm đến đây làm gì, và vì sao lại quan tâm câu chuyện của các cô ấy. Khi đó, tôi phải nỗ lực để các cô ấy tin tưởng”, Kimberly nói.

Trong nhiều tuần đầu tiên, Kimberly học các công việc của đồng nghiệp. Từ phục vụ đến làm việc ở quầy pha chế, ngồi uống với khách, hát karaoke, để khách chạm vào cơ thể.

“Đó là ranh giới mà khi vượt qua thì bạn sẽ không còn là phụ nữ đứng đắn theo quan điểm thông thường. Nhưng nó giúp tôi lấy lòng tin với các cô gái và khách hàng. Khi bước vào đây, tôi không tỏ ra mình tốt hơn hay thông minh hơn các cô ấy. Tôi phải làm công việc giống như họ, tôn trọng công việc của họ”.

Kimberly làm việc khoảng 13 tiếng mỗi ngày, và đủ 7 ngày trong tuần. Thỉnh thoảng cô cũng xếp hàng để những vị khách nam chọn. “Nhưng vì tôi già, xấu, chân ngắn và cũng không mảnh mai, không hấp dẫn, nên khi đó chẳng có ai gọi tôi đến bàn cùng uống rượu cả”, Kimberly cười lớn khi kể lại.

Sau khoảng 9 tháng liên tục làm việc tại quán bar cao cấp vốn đòi hỏi phải uống rượu hàng đêm với khách nhiều hơn, Kimberly quyết định giảm tần suất công việc. Chuyển sang quán bar bình dân nhất, cô chọn đóng vai người quan sát hơn là hóa thân thành cô gái quán bar thực sự.

Kimberly cho biết cô dễ dàng hòa nhập với các vị khách tại những quán bar cao cấp hơn, vì năng lực ngôn ngữ, nền văn hóa và cách tương tác rất “Mỹ”. Sau khi đoán được trình độ của cô, một vị khách thậm chí để nghị Kimberly trở thành “thư ký tình dục” (sex-retary) cho ông ấy với mức lương 3.000 USD/tháng. “Khi đó, trong lòng tôi chỉ muốn đấm một phát vào mặt ông ấy. Nhưng tôi đã kiềm chế, mỉm cười, và cúi đầu từ chối cơ hội này”, Kimberly kể.

Quyền năng châu Á và sự suy tàn của châu Âu

Giai đoạn hai trong quá trình nghiên cứu của Kimberly trùng với cuộc khủng hoảng tài chính thế giới, bắt đầu từ năm 2008. Lúc này, Việt Nam hầu như chưa bị ảnh hưởng. Thậm chí, trong giai đoạn khủng hoảng, Việt Nam trở thành một trong những thị trường hấp dẫn tại châu Á đối với nhà đầu tư nước ngoài, FDI năm 2009 gần gấp 3 năm 2006.

Nhưng phần lớn đầu tư nước ngoài của Việt Nam giai đoạn 2006 – 2009 không phải từ Mỹ hay châu Âu, mà từ châu Á, như Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore. Do vậy, hướng nghiên cứu lúc này được mở rộng sang việc sử dụng tình dục như hình thức thanh toán, trao đổi hoặc hỗ trợ trong quan hệ kinh tế như thế nào.

Nu tien si va 5 nam xam nhap the gioi mai dam o Sai Gon hinh anh 3
Quyển sách của Kimberly Kay Hoang tựa đề tạm dịch “Mua bán dục vọng: quyền năng tại Châu Á, suy tàn tại Châu Âu và hình thức tiền tệ ngầm của nghề mại dâm toàn cầu”, là tổng hợp trải nghiệm và phân tích khoa học từ 5 năm phục vụ quán bar tại TP HCM. Cuốn sách đã đạt nhiều giải thưởng học thuật uy tín tại Mỹ. 

“Cách làm ăn rất châu Á. Quy trình, luật lệ không phải là những yếu tố tuân thủ hàng đầu. Vậy làm sao để xây dựng mối quan hệ và lòng tin? Họ đã làm những điều này tại quán bar.

Đối với đàn ông châu Âu, đến quán bar là để vui vẻ và giải trí. Nhưng đối với đàn ông châu Á, quán bar còn là nơi để tiếp xúc, tìm hiểu lẫn nhau trong các phi vụ làm ăn và ký hợp đồng”, Kimberly nói vớiZing.vn.

Theo quan sát của Kim, điều khiến nhiều nhà nghiên cứu bất ngờ là vị thế của những người đàn ông phương Tây trong các quán bar hạng sang ở Việt Nam lại không phải cao nhất, mà thống trị chính là các đại gia người Việt.

“Bởi vì đàn ông phương Tây không mang theo sẵn thật nhiều tiền mặt để chi trả, trong khi các quán bar hiếm khi nhận thanh toán bằng thẻ tín dụng. Tấm thẻ trở nên vô dụng, trong khi những đại gia Việt lại rất nhiều tiền và đặc biệt là rất hào phóng. Đó cũng là điều phản ánh một phần từ góc nhìn ‘Quyền năng châu Á và suy tàn của phương Tây’”, Kimberly nói.

Cô nhớ nhất một buổi tiếp khách của một đại gia người Việt với các đối tác Đài Loan. Đến khi thanh toán, biết chắc rằng những đối tác không mang đủ tiền mặt, vị đại gia liền “vung tiền” và tự hào tuyên bố: “Đây là cách chơi của chúng tôi”.

Ông này cũng hào phóng “boa” cho các cô gái phục vụ tổng số tiền 1.100 USD, rồi lại quay sang hỏi đối tác: “Các vị có bao giờ thấy ông Tây hay Việt kiều nào làm như vậy chưa?”.

Nu tien si va 5 nam xam nhap the gioi mai dam o Sai Gon hinh anh 4
Kimberly Kay Hoang chia sẻ những kết quả nghiên cứu với sinh viên tại ĐH Chicago. Ảnh: uchicago

Cuộc sống của cô gái quán bar

Theo Kimberly, “tình chị em” giữa những cô gái quán bar khá gắn kết. Họ tụ tập vui vẻ với nhau những khi không làm việc, tổ chức tiệc sinh nhật cho nhau, thậm chí đến thăm gia đình của nhau.

Má mì cũng không hẳn là người bóc lột sức lao động. Họ không xén bớt phần tiền của các cô gái sau mỗi lần ‘mây mưa’ với khách. Họ chỉ nhận tiền boa khi ngồi uống với khách. “Nhưng điều này chỉ diễn ra trong các quán bar cao cấp”, Kimberly thừa nhận.

Các cô gái cũng chịu khó tân trang nhan sắc để thu hút được nhiều khách hơn. Họ nâng mũi, nâng cấp vòng 1… hoặc phẫu thuật theo hướng để giống với các cô gái Hàn Quốc. Đó là vẻ đẹp mong manh của phụ nữ châu Á, vừa hợp nhãn với những đại gia địa phương mà cũng hấp dẫn đối với các vị khách phương Tây, khác hẳn hình ảnh những gái mại dâm “xôi thịt” như tại Mỹ.

“Một bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ từng nói với tôi rằng, ‘Nhiều người cứ bảo tiền không mua được tình yêu, nhưng đó là do họ không biết mua ở chỗ nào thôi’”, Kimberly chia sẻ.

Kimberly cho biết, nhiều cô gái chọn trở thành phục vụ ở quán bar vì đây là công việc không khó nhọc nhưng giúp mang lại thu nhập cao, so với các công việc như ở nhà máy.

Trên thực tế, họ cũng là người đóng góp lớn cho thu nhập gia đình ở quê hương so với những người anh em đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài. Nhưng định kiến ở một xã hội phương Đông vẫn rất nặng nề.

Một trong những kỷ niệm buồn của Kimberly là khi cô về thăm nhà một nữ đồng nghiệp vào dịp Tết. Giữa chặng đường, mẹ của người bạn gọi điện thoại và chửi mắng con gái. “Bà bảo cô ấy đừng về nữa. Hàng xóm ai cũng kháo nhau rằng cô ấy đi làm gái”. Cô gái oà khóc giữa chuyến xe, “má mì” cố gắng khuyên bảo: “Không sao đâu, rồi chúng ta sẽ có cách”.

Kimberly Kay Hoang đang giảng dạy tại ĐH Chicago. Bà là chuyên gia về xã hội học có tiếng về các vấn đề giới, toàn cầu hóa, kinh tế xã hội học. Bà có bằng thạc sĩ xã hội học tại ĐH Stanford và bằng tiến sĩ tại ĐH California Berkeley. Nghiên cứu nhập vai của bà tại TP HCM từng được giải thưởng của Hiệp hội Xã Hội học Mỹ (ASA) vào năm 2012. Nghiên cứu của bà được ASA đánh giá “độc đáo” khi tiếp cận được nhiều góc độ khác nhau của lĩnh vực này. ASA cũng đánh giá nghiên cứu của bà đã “thúc đẩy nhiều phương pháp nghiên cứu xã hội học truyền thống để tiếp cận các vấn đề về toàn cầu hóa” và tạo ra cách hiểu mới với các vấn đề phức tạp của mối quan hệ sản xuất và tái sản xuất trên thị trường toàn cầu

Continue Reading

TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN THƯ VIỆN NHÂN HỌC

Dự án Thư viện Nhân học là một dự án hoàn toàn phi lợi nhuận. Nguồn tài chính của Thư viện Nhân học đến từ: 1) nguồn tiền đóng góp của các thành viên, 2) tiền tài trợ của các cá nhân – tổ chức, 3) tiền thu được từ việc tham gia các dự án nghiên cứu. Toàn bộ số tiền thu được sẽ được tái đầu tư HOÀN TOÀN cho phát triển Thư viện.

Thư viện của chúng tôi chủ trương: tập hợp toàn bộ những tư liệu nghiên cứu hoặc phục vụ nghiên cứu về Việt Nam ở nước ngoài bằng các thứ tiếng Anh – Trung – Việt – Nhật – Hàn – Pháp về một nơi để tiện cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước có thể sử dụng dễ dàng. Thành viên Thư viện Nhân học có thể sử dụng không hạn chế, và hoàn toàn miễn phí toàn bộ dữ liệu và dịch vụ của thư viện Nhân học. Chi phí duy nhất cố định là 500,000 VNĐ (tương đương $23) một năm để trở thành thành viên của Thư viện Nhân học

Nhận thức được rằng, tự thân việc sưu tầm, lưu trữ tập trung, xử lý, và công bố tư liệu tuy hữu ích, nhưng KHÔNG ĐỦ để thúc đẩy và tạo ra những thay đổi thiết thực trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và trong bản thân đời sống xã hội. Những người sáng lập Thư viện chủ trương phát triển Thư viện Nhân học thành cầu nối tri thức, giới thiệu những nghiên cứu mới nhất về Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới bằng tiếng Việt. Đồng thời giới thiệu nghiên cứu mới xuất bản ở Việt Nam bằng tiếng Việt ra nước ngoài bằng tiếng Anh.

Thư viện sẽ tham gia tích cực vào thảo luận và giải quyết những vấn đề xã hội một cách khách quan, trung lập, từ góc độ học thuật. Điều này sẽ góp phần thay đổi tích cực cách chúng ta tiếp nhận và thực hành nghiên cứu khoa học xã hội.

Những công việc kể trên được kỳ vọng sẽ đem đến những thay đổi thực chất trong nghiên cứu khoa học xã hội, đảm bảo cho những nhà nghiên cứu trong nước được quyền tiếp cận BÌNH ĐẲNG tư liệu nghiên cứu như những đồng nghiệp ở nước ngoài.

Không có bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin và tư liệu nghiên cứu thì không có nghiên cứu tốt, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Không có nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế, không có chuyện nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục khoa học xã hội. Việc đem đến sự BÌNH ĐẲNG trong việc tiếp cận tư liệu nghiên cứu kèm theo những chỉ dẫn tư liệu hữu ích cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước sẽ giúp Việt Nam có được những trường Đại học bình thường như bao Đại học khác trong khu vực và trên thế giới.

Đây sẽ là Thư viện phục vụ nghiên cứu Việt Nam có quy mô lớn nhất thế giới. Tính đến ngày 12 tháng 03 năm 2017, Thư viện đã có 170 ngàn đầu tư liệu đã qua chỉnh lý với hơn 10 triệu đầu tư liệu đã và đang trong quá trình chỉnh lý. Dữ liệu thô của thư viện hiện nay đã được số hóa và sưu tầm từ khắp nơi trên thế giới về hiện giờ đã chạm mức: 96 ngàn GB.

Dữ liệu của Thư viện hiện đang được cập nhật hàng ngày bởi những cộng tác viên và nhân viên Thư viện. 

CÁC DỊCH VỤ THƯ VIỆN CUNG CẤP

  • Kho tư liệu số hóa nghiên cứu về Việt Nam và phục vụ nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước (miễn phí cho thành viên Thư viện). Kho tư liệu số hóa được cấu trúc theo một kiểu chưa từng có trước đây. Kho sách là tập hợp của nhiều account Google KHÔNG GIỚI HẠN DUNG LƯỢNG lại với nhau. Mỗi khi có người dùng mới tham gia, dữ liệu sẽ được copy toàn vẹn vào tài khoản của người dùng, đảm bảo dữ liệu của thư viện sẽ không bao giờ bị mất, và được nhân bản theo phương pháp giống như “nhân bản tế bào”.
  • Hỗ trợ tìm kiếm báo, tạp chí, sách vở, luận án nghiên cứu về Việt Nam ở nước ngoài (miễn phí cho thành viên Thư viện)
  • Dịch vụ đặt hàng số hóa những sách mới xuất bản về Việt Nam ở nước ngoài theo danh mục sách mới xuất bản có sẵn (miễn phí cho thành viên Thư viện). Danh mục này được cập nhật hàng ngày, hoàn toàn tự động, bao gồm thông tin xuất bản và mục lục những sách nghiên cứu mới xuất bản ở Bắc Mỹ và châu Âu.
  • Dịch vụ cung cấp tư liệu cho các dự án nghiên cứu trong và ngoài nước (chi phí thỏa thuận)

Toàn bộ tư liệu do Thư viện hỗ trợ người dùng lấy sẽ được đưa hoàn toàn vào thư viện để mọi thành viên khác đều có thể truy cập và sử dụng KHÔNG HẠN CHẾ.

VỀ MẶT TÀI CHÍNH

Nguồn thu của Thư viện đến từ: 

  • Nguồn thu do thành viên Thư viện đóng góp. Mỗi thành viên tham gia thư viện đóng 500 ngàn đồng 1 năm để có thể sử dụng toàn bộ dữ liệu thư viện.
  • Nguồn thu do ủng hộ và tài trợ của cá nhân – tổ chức trong và ngoài nước.
  • Nguồn thu từ việc tham gia các dự án trong và ngoài nước

Dự tính những nguồn thu trong tương lai:

  • Nguồn thu từ hoạt động xuất bản của thư viện (viết bài, dịch thuật, xuất bản tư liệu)
  • Nguồn thu từ bán quảng cáo trên website thư viện cho những bộ sưu tầm sách cổ miễn phí ở www.quochoc.org
  • Nguồn thu từ khai thác, phân tích dữ liệu thư viện bằng trí tuệ nhân tạo (Bigdata kết hợp với AI, đang xây dựng)
  • Nguồn thu từ việc xây dựng và thương mại hoá mã nguồn thư viện Nhân học. Biến mã nguồn thư viện Nhân học thành mã nguồn phổ biến cho các thư viện không giới hạn dung lượng khác trên thế giới.

Chi phí chính cho thư viện hiện giờ bao gồm:

  • Chi phí làm tài khoản Google không giới hạn dung lượng cho mỗi thành viên đăng ký: 200 ngàn đồng/ 1 tài khoản/ 1 năm (lấy từ chi phí hội viên do hội viên thư viện đóng góp hàng năm)
  • Chi phí cho các máy chủ đẩy và khai thác dữ liệu: gồm 6 VPS ($20 một tháng, 120 usd 1 năm), tổng cộng: 720 usd 1 năm (lấy từ chi phí do hội viên thư viện đóng góp)
  • Chi phí cho việc chỉnh lý tư liệu: 6 triệu/2 người/1 tháng = 72 triệu / 1 năm (lấy từ chi phí do hội viên thư viện đóng góp)
  • Chi phí duy trì domain và hosting cho website nhanhoc.org = 3 triệu/1 năm (domain và hosting) (do Nguyễn Phúc Anh chi)
  • Chi phí đầu tư xây dựng mã nguồn đặc thù cho thư viện, tổng đầu tư tính từ tháng 01 năm 2016 đến nay là 90 triệu đồng (vẫn còn tiếp tục – Nguyễn Phúc Anh chi không cần hoàn lại).
  • Chi phí hỗ trợ tình nguyện viên mượn sách thư viện, mang đi scan, chỉnh lý và gửi về Việt Nam: $20/1 đầu sách (lựa chọn kĩ càng, yêu cầu phải là sách hay và mới xuất bản). Trong tương lai, TOÀN BỘ SỐ TIỀN còn dư của thư viện sau khi trừ hết các khoản chi phí khác sẽ lại được đầu tư để sao chụp thêm tư liệu quý hiếm từ khắp nơi trên thế giới để đưa về Thư viện (hiện đang do Nguyễn Phúc Anh chi trả)

Tổng thu của thư viện: 152 triệu đồng (thư viện hiện có 292 thành viên) tính đến ngày 13 tháng 03 năm 2017.

Chi phí đầu tư còn lại được đầu tư bằng tiền cá nhân của Nguyễn Phúc Anh (không cần hoàn lại). Tính từ tháng 03 năm 2016 đến nay, tổng chi phí đã đầu tư là 325 triệu đồng.

VỀ MẶT TƯ LIỆU CỦA THƯ VIỆN

Trên nguyên tắc, Thư viện Nhân học sẽ sưu tầm toàn bộ tư liệu về Việt Nam hoặc phục vụ nghiên cứu Việt Nam xuất bản bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Trung, Hàn, Nhật, Việt Nam, Hán Nôm. Song, trong giai đoạn đầu, Thư viện Tập trung kết tập những tài liệu:

  • Tư liệu MỚI NHẤT thuộc các phân ngành Khoa học Xã hội về Việt Nam xuất bản ở nước ngoài.
  • Tư liệu cổ quý hiếm liên quan đến Việt Nam ở nước ngoài
  • Tư liệu nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt, ở Việt Nam.
  • Tư liệu phim ảnh phục vụ cho nghiên cứu Việt Nam
  • Tư liệu phục vụ cho việc tự học và nâng cao trình độ tiếng Anh.
  • Những tư liệu mà người dùng – thành viên Thư viện yêu cầu.

VỀ MẶT ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN

Khi đăng ký thành viên thư viện, Thư viện sẽ làm tài khoản Google KHÔNG GIỚI HẠN DUNG LƯỢNG và gửi thành viên sử dụng. 

Thành viên có thể chọn kết nối qua tài khoản Google có sẵn. Dung lượng Thư viện trong trường hợp này sẽ không chiếm dụng dung lượng tài khoản Google của mọi người.

Chi phí duy trì tài khoản 1 năm là 500 ngàn đồng Việt Nam. 

Về mặt chuyển khoản: có thể chuyển vào một trong số những tài khoản sau. Sau khi chuyển khoản, xin anh chị nhớ giữ giấy biên nhận hoặc chụp ảnh màn hình thông báo chuyển khoản.

(Xin anh chị ghi chú khi chuyển tiền để nhân viên của Thư viện Nhận ra chuyển khoản của anh chị)

VIETCOMBANK

Chủ tài khoản: VU THU HANG,  Số tài khoản: 0541000191660

Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Chương Dương

BIDV

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG.

Số tài khoản: 12310000708707

BIDV Quang Trung

SACOMBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG. Số Tài khoản: ‎020044241286.

Ngân hàng Sacombank, chi nhánh Long Biên

VIETINBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG

DDA 106003392248 Chi nhánh Hoàn Kiếm

TECHCOMBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG

Số Tài khoản: 19031418934550

Chi nhánh Hà Thành

NƯỚC NGOÀI

Phương án 1: Tài khoản Paypal npa@ussh.edu.vn

Phương án 2: Bank of America: Routing Number: 011000138, account number: 004662946236, account holder: Phuc Anh Nguyen, email ở BOA: npa@ussh.edu.vn

—————-

Mọi ý kiến, thắc mắc xin liên hệ email: me@nguyenphucanh.net

Trợ giúp kĩ thuật: Nguyễn Phúc Anh, Facebook:

https://www.facebook.com/anhnp86

Continue Reading

[Thông tin] Khóa học trực tuyến “Food and Our Future: Sustainable Food Systems in Southeast Asia”

[Thông tin] Khóa học trực tuyến về “Food and Our Future: Sustainable Food Systems in Southeast Asia” do Viện Môi trường Stockholm tổ chức.

Khóa học bắt đầu từ ngày 08 tháng 08 năm 2016 trong vòng 5 tuần.

Khóa học này miễn phí. [muốn đc cấp chứng chỉ cho học viên sẽ phải trả £24 hay £49, qua cổng thanh toán paypal hoặc thẻ Master, Visa Debit]

Xin thảm khảo các thông tin dưới đây:

Stockholm Environment Institute is launching a Massive Open Online Course (MOOC) on Food and Our Future: Sustainable Food Systems in Southeast Asia, with the support of the United Nations Environment Programme, International Resource Panel and the 10YFP Sustainable Food Systems Programme. The course begins on 8 August 2016, is 5 weeks long and is free of charge.

The course consists of a series of video lectures, readings, discussions, and case studies that will guide learners through the complexities of food systems and what they mean for the environment and human health. It is designed for learners to engage with Southeast Asia’s food and ecosystems in a highly interactive way.

We encourage you to sign up. To register, visit:https://www.futurelearn.com/cou…/food-systems-southeast-asia

You can visit and like the course’s Facebook page here: /https://www.facebook.com/SustainableFoodSystemsMOOC/

Continue Reading
1 2 3 22