Đâu mới là nguyên nhân chính khiến phụ nữ trầm cảm khi sinh?

Bàn về quyển sách của Sheila Kitzinger – Khủng hoảng sinh đẻ

“Khi tôi mang thai 35 tuần tuổi, tôi phải đến phòng khám thai vì tôi lo rằng tôi không còn cảm nhận em bé đang chuyển động trong suốt 24 giờ. Sau đó, người ta đưa tôi vào khám nội khoa. Tôi nghĩ rằng việc thăm khám này là chả cần thiết và hết sức đồi bại khi người ta săm soi cơ thể tôi như vậy.

Chỉ đến mãi sau này, khi đọc quyển sách “Khủng hoảng sinh đẻ” tôi mới dần dần nhận ra đó là một thứ thủ tục bắt buộc mà bác sĩ là như một cha cố trong trang phục nghi lễ, ép buộc tôi cởi bỏ quần áo để phải hi sinh phô bày cơ thể mình”……

Những thứ thủ tục kiểu này trong quá trình sinh đẻ của người phụ nữ chính là những trải nghiệm khó chịu nhất đối với họ.

Sheila Kitzinger trong quyển sách “Khủng hoảng sinh đẻ” đã phê phán mạnh mẽ như “thủ tục y tế” hiện đại, bắt buộc người phụ nữ liên tục phải hứng chịu sức ép đối với cơ thể của mình trong suốt thời kỳ mang thai và hậu sản. 

Theo bà, đây chính là nguyên nhân chính dẫn đến sang chấn tâm lý sau sinh. Dĩ nhiên không phải nguyên nhân là do mấy cái lí do ngu ngốc như thay đổi hóc-môn hay sự thiếu tâm lý của mấy anh chồng hay đàn ông.

Trong suốt quá trình chăm sóc y tế thời gian mang thai, sinh con, và hậu sản, cơ thể người phụ nữ luôn bị những người thực hành y tế “hành hạ” với niềm tin rằng họ đang “chăm sóc” người phụ nữ đúng cách. Thực tế, khi xem xét toàn bộ quá trình chăm sóc cơ thể phụ nữ thời kì này, người ta chỉ thấy người phụ nữ liên tục bị đẩy vào tình trạng thiếu kiểm soát cơ thể của mình. Họ gần như mất khả năng cảm nhận cơ quan sinh dục của mình, rối loạn tâm lý, liên tục bị buộc phải hồi tưởng, liên tục bị dọa dẫm và cảm thấy hoảng loạn sợ hãi. Và điều này khiến họ cảm thấy cơ thể họ không còn là của họ, và đứa con chính là thủ phạm gây ra những sang chấn tâm lý này chứ không phải cách mà chăm sóc y tế cùng thực hành chăm sóc sức khỏe thai sản gây ra cho họ.

Nhiều phụ nữ sau đó tìm cách tránh quan hệ tình dục, tránh không muốn mang thai, và cuối cùng là chính thức mắc chứng rối loạn tâm lý sau sinh (PTSD)

Kitzinger khẳng định PTSD là một di chứng của quá trình mang thai và sinh đẻ. Bà lên án hai điều: thứ nhất, y học hiện đại coi di chứng tâm lý của phụ nữ là một thứ BỆNH, là PTSD là hoàn toàn sai lầm. Chính việc coi di chứng tâm lý sau sinh là BỆNH, nên họ khiến những người phụ nữ cảm thấy họ bị “gây bệnh” bởi một ai hay một cái gì đó. Chính vì vậy, họ có xu hướng tìm kiếm nguyên nhân và đổ lỗi. Việc coi di chứng tâm lý này là một thứ BỆNH đã khiến nhiều người phụ nữ buộc phải sử dụng THUỐC MEN, tác động đến tâm lý và thần kinh của họ, khiến họ lệ thuộc hơn vào thuốc men và làm trầm trọng hơn những vấn đề vốn không cần phải dùng đến THUỐC.

Quá nhiều những câu chuyện trong quyển sách này của Kitzinger đã chứng minh một cách thuyết phục những luận điểm của bà.

Quyển sách này dành cho những người sắp trở thành mẹ, và cả những người phụ nữ đã và đang trải qua trầm cảm sau sinh. Đây là một tác phẩm đầy tính nhân văn, chỉ ra đúng vấn đề của y tế hiện đại trong việc đối xử với thân thể người phụ nữ.

Chính chăm sóc y tế mới là thủ phạm CHÍNH, gây ra những chấn thương tâm lý này của người phụ nữ trên toàn thế giới.

Tác giả Sheila Kitzinger là một chuyên gia hàng đầu viết về sinh đẻ và trải nghiệm sinh đẻ của người phụ nữ. Bà qua đời năm 2015. 

Bài viết về bà trên tờ TheGuardian của Anh

https://www.theguardian.com/lifeandstyle/2015/apr/12/sheila-kitzinger

Continue Reading

Giáo dục công ở Hoa Kỳ có khai phóng hay không? – Radio Nhân học Kỳ 12

GIÁO DỤC CÔNG Ở HOA KỲ CÓ KHAI PHÓNG HAY KHÔNG? 

RADIO NHÂN HỌC KỲ 12 

File âm thanh:https://goo.gl/zRd7Rf

File nền web: https://goo.gl/NxVCtP

Phát thanh viên: Trà Hoa Cúc

Giới thiệu của Radio Nhân học:

Xu hướng “lãng mạn hóa” trong góp ý và thực hành cải cách giáo dục là xu hướng phổ biến ở Việt Nam hiện nay. Xu hướng này đã, đang và sẽ tiếp tục đẩy cải cách giáo dục vào bế tắc.

Đọc những gì “giới tham mưu” viết về giáo dục Mỹ, giáo dục Nhật Bản và giáo dục Phần Lan, người ta có cảm giác họ đang hoạt động bán hàng đa cấp chứ không phải đang cung cấp một bức tranh thực tế – thực dụng về những gì đang xảy ra trên thế giới. 

Những bức tranh lãng mạn màu hồng có thể khiến người ta thèm muốn nhưng không ai làm chính sách với những huyễn tưởng ấy cả. 

Thực hành cải cách của Bộ Giáo dục Việt Nam nhiều năm qua cũng chỉ dừng ở việc bán “vision” (tầm nhìn) và tiêu tiền nên thất bại là điều đương nhiên. Những gì chúng ta thấy là sự cóp nhặt những “mô hình lý tưởng” đâu đó để đem về áp dụng đại trà “trên phạm vi toàn quốc”. 

Những mục tiêu được đặt ra trong những đề án cải cách đã thất bại trước đây đều là những mục tiêu không tưởng như “phổ cập” năng lực ngoại ngữ, hay áp dụng một mô hình lớp học “hiện đại” trên phạm vi toàn quốc.

Chúng ta muốn học tập giáo dục Mỹ, Nhật, Phần Lan cũng được thôi. Nhưng trước hết cần phải tiếp nhận thông tin về nền giáo dục đó đa chiều và cẩn thận.

Radio Nhân học xin trân trọng giới thiệu bài viết của Trần Uyên Nguyên, hiện đang học tập ở Đại học Lesley, để cung cấp cho bạn đọc một góc nhìn tham chiếu khác về giáo dục Hoa Kỳ. 

Bài viết chỉ ra rất nhiều những bài học kinh nghiệm cho cải cách giáo dục công của Việt Nam. Đặc biệt, nó phần nào chỉ ra sự ngớ ngẩn của mệnh đề “đào tạo theo nhu cầu của thị trường” đã được nhắc đi nhắc lại gần đây trên truyền thông đại chúng.

GIÁO DỤC CÔNG Ở HOA KỲ CÓ KHAI PHÓNG HAY KHÔNG?

Trần Uyên Nguyên

Đó là câu hỏi lớn và cũng là đề tài luận văn cuối khoá của khoá học Nghệ Thuật và Lịch sử Giáo Dục Hoa Kỳ của tôi tại Đại học Lesley. 

Ngày tôi sang Mỹ, tôi kỳ vọng sẽ nhìn thấy một nền giáo dục khai phóng, thể hiện ở việc tôn trọng từng cá nhân và giúp học sinh tư duy phản biện. Tuy nhiên, khi thảo luận với các sinh viên bản địa, đến thăm một số trường công nổi tiếng của bang Massachusetts, và đọc quyển “Trường Mỹ: Bối cảnh toàn cầu – Từ Thanh giáo đến thời kỳ tổng thống Obama” (The American School: A Global Context – From the Puritans to the Obama Administration) của Joel Spring, tôi được biết: chính sách giáo dục công ở Hoa Kỳ chưa bao giờ hướng đến mục tiêu khai phóng. Trong suốt lịch sử Mỹ, giáo dục công luôn được sử dụng để ổn định và phát triển xã hội, cũng như đào tạo nguồn lao động.

Sau nhiều tuần thảo luận và đọc sách, các bạn học cùng lớp của tôi (phần lớn có kinh nghiệm giảng dạy ở trường công) đồng ý với nhau rằng ba mục tiêu lớn của giáo dục công ở Mỹ hiện nay là: 

– Thứ nhất, tạo sự bình đẳng về cơ hội cho học sinh bằng cách tiêu chuẩn hoá những kỹ năng và kiến thức cơ bản thông qua một Tiêu chuẩn cốt lõi chung (Common Core Standard). 

– Thứ hai, tạo ra những thành viên có khả năng làm việc hiệu quả và cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu. 

– Thứ ba, dạy những giá trị của nền văn hoá Mỹ.

Song Joel Spring, trong quyển sách của ông, cho rằng Tiêu chuẩn Cốt lõi chung không thể tạo ra những người lao động có hiệu quả trong xã hội tương lai. Nó quá nhấn mạnh vào đào tạo theo nhu cầu thị trường lao động, thứ liên tục thay đổi theo thời gian. Đồng thời, Tiêu chuẩn chung này đã loại những yếu tố quan trọng cho sự sáng tạo như cảm nhận, cảm xúc và khả năng thể hiện suy nghĩ cá nhân ra khỏi chương trình học. Việc áp dụng tiêu chuẩn này đã loại bỏ các môn nghệ thuật, văn chương ra khỏi chương trình chính khoá của nhiều trường. 

Trong khi đó, theo Joel Spring khả năng tư duy độc lập và sáng tạo mới là kĩ năng người lao động cần, để giải quyết những vấn đề kinh tế xã hội hiện tại và xây dựng những hệ thống mới hiệu quả hơn. 

Những ngành “hot” nhất hiện nay chưa hề tồn tại 10 năm trước. 65% học sinh tiểu học hiện nay sẽ làm việc trong những ngành nghề thậm chí chưa hình thành (1). Câu hỏi được đặt ra là: làm sao học sinh có thể tạo ra hệ thống mới, hoặc thích nghi với hệ thống mới, khi họ chỉ được đào tạo để vận hành trong hệ thống cũ? 

Ngoài ra, Tiêu chuẩn Cốt lõi chung đã làm việc ngược đời khi nó đề ra chương trình giảng dạy chung cho toàn quốc dựa trên tiêu chuẩn đầu ra của bậc trung học phổ thông. Việc không đồng bộ giữa ý chí chủ quan và sự phát triển tâm lý của trẻ em tạo ra những chương trình học bất hợp lý, đặc biệt với những khối lớp nhỏ (2). 

Có thể thấy sự bất hợp lý này thông qua việc giảm ngân sách dành cho các chương trình học nghệ thuật, thể thao và các môn ngoại khoá khác, đều là những môn học rất quan trọng cho sự phát triển tâm sinh lý của trẻ em. Tiêu chuẩn cốt lõi chung còn vận hành trên một tiền đề không chính xác là mọi trẻ em đều phát triển với tốc độ như nhau.

Bên cạnh đó, một chương trình học lấy sự phát triển kinh tế làm trung tâm sẽ đặt nhẹ yếu tố phát triển bền vững. Một xã hội không phát triển bền vững về mặt môi trường sẽ không thể có công bằng xã hội. Như chúng ta đang thấy hiện nay, khi thiên nhiên bị khai thác quá mức để phát triển kinh tế, thì thiên tai và biến đổi khí hậu sẽ diễn ra nhiều hơn. Những người bị ảnh hưởng nhất sẽ là những người nghèo.

Cuối cùng, mục tiêu giảng dạy giá trị văn hoá Mỹ cũng là một mục tiêu đáng tranh cãi. Có hay không một nền văn hoá Mỹ? Nước Mỹ là đất nước của những người nhập cư. Trừ những người da đỏ bản địa, tất cả người Mỹ đều là người nhập cư. Tuy nhiên, nền văn hoá và tư tưởng thống trị ở Mỹ hiện nay lại là văn hoá Anglo American và tư tưởng châu Âu trung tâm. Trong suốt lịch sử nước Mỹ, những người da đỏ bản địa, người Ireland, người Hispanic, người gốc Á, Phi, Trung Đông, luôn phải đứng lên để giành lấy sự công bằng và đưa văn hoá của họ vào giáo dục công. Câu hỏi đặt ra là khi văn hóa của học sinh không được thực sự hiểu và tôn trọng, học sinh có thể tư duy độc lập hay phải gò ép suy nghĩ của mình theo văn hoá “chính thống”?

Nhìn chung, chính sách giáo dục công ở Mỹ chưa bao giờ coi trọng việc khai phóng cá nhân, cho dù chủ nghĩa cá nhân là một phần quan trọng của văn hoá Mỹ.

Thay lời kết, tôi muốn nói về trải nghiệm của tôi trong lớp học về giáo dục ở Lesley. Bạn học của tôi thường kể về những kỷ niệm được giáo viên ủng hộ để làm những việc họ muốn, hay trở thành người họ muốn. Ở một số trường tiểu học mà tôi đến thăm (thành phố Newton, bang Massachusett), có những bố mẹ thành lập hội phụ huynh để tạo cho con cái nhiều chương trình ngoại khoá hơn, và có những giáo viên không ngừng đấu tranh để được tự do nhiều hơn trong chương trình giảng dạy và đưa nghệ thuật vào giáo dục. Họ nói với tôi rằng nghệ thuật là một công cụ tuyệt vời để tạo nền giáo dục khai phóng.

Như vậy có hay không sự khai phóng trong nền giáo dục Mỹ? Câu trả lời của cá nhân tôi là có. Tuy nhiên, nó không đến từ chính sách giáo dục, mà đến từ những cá nhân tin vào giá trị của nó và dám đấu tranh để đem nền giáo dục toàn diện hơn cho từng cá nhân học sinh. Nhưng không phải tất cả học sinh trên đất Mỹ đều nhận được nền giáo dục đó.     

(1) https:www.timeshighereducation.comnewsmartin-boehm-preparing-students-for-jobs-that-dont-exist-yet     

(2) Strauss, V (2014, May). 6 reasons to reject common core K3 standards and 6 rules to guide policy.

Retrieved from https:www.washingtonpost.comnewsanswer-sheetwp201405026-reasons-to-reject-common-core-k-3-standards-and-6-axioms-to-guide-policy?utm_term=.10b51fc54532

QUYỂN SÁCH Spring, J.H (2005). The American school, a global context: from the Puritans to the Obama administration. New York, NY: McGraw-Hill Education. 

ĐÃ CÓ TRONG THƯ VIỆN NHÂN HỌC

 

Continue Reading

Không phải đàn ông thời kỳ nào cũng mê ngực phụ nữ – Radio Nhân học kỳ 11

Không phải đàn ông nào trên thế giới cũng nhìn ngắm bộ ngực người phụ nữ bằng con mắt nhục dục. Đó là một thực tế!  

Trong rất nhiều nền văn hóa, bộ ngực phụ nữ hoàn toàn không phải là biểu tượng của tình dục. Chúng ta có thể thấy điều này hết sức rõ ràng khi xem lại những bức ảnh về phụ nữ các tộc người ở Tây Nguyên với bộ ngực trần và làn da ngăm trong thời kỳ Pháp thuộc và chiến tranh Việt Nam.

Vậy từ khi nào, bộ ngực người phụ nữ trở thành biểu tượng của tình dục?

Học giả Marilyn Yalom trong quyển sách Lịch sử về ngực “A History of the Breast” đã tiến hành truy ngược lịch sử để đưa đến một hình dung đầy đủ về hình ảnh bộ ngực phụ nữ trong nền văn hóa phương Tây từ thời Trung cổ đến thời hiện đại.

Bà chỉ ra rằng nam giới là một mắt xích quan trọng trong việc kiến tạo hình ảnh mới về bộ ngực phụ nữ. Bà cho rằng, từ rất sớm trong lịch sử văn hóa phương Tây, bộ ngực của người phụ nữ đã trở thành nguồn cảm hứng vô tận cho đàn ông trong lĩnh vực thơ ca, đạo đức, truyền thông, và cả bác sĩ thẩm mỹ. 

Từ thời Cổ đại đến thời Trung Cổ trong tinh thần Kito giáo thì hình ảnh ngực phụ nữ vốn chỉ biểu tượng cho sự thiêng liêng và trân trọng. Điều này thể hiện qua những bích họa của Mẹ Maria để ngực trần cho Jesus bú. 

Nhưng khi đến thời Phục Hưng thì hình ảnh bộ ngực bị che đi. Điển hình là bức tranh Madonna and Child của Jean Fouquet, ngực phụ nữ bị che giấu đi một nửa và đứa trẻ chỉ ngồi trong lòng mẹ. Người xem tranh chỉ thấy đường nét ẩn hiện tạo nên bờ ngực của người phụ nữ mà thôi.

Hiện tượng này, theo Yalom, là chỉ dấu cho việc bộ ngực phụ nữ đã bị tình dục hóa, mất đi tính chất thiêng liêng tôn giáo của nó.

Cũng trong chính giai đoạn này, cách nhìn về chức năng của bộ ngực phụ nữ cũng bắt đầu phản ánh góc nhìn giai cấp, đẳng cấp. 

Bộ ngực của phụ nữ thuộc tầng lớp thấp trong xã hội bị coi là một thứ công cụ để chăm sóc con cái. Trong khi đó, bộ ngực của phụ nữ quý tộc không phải là để cho con bú mà để phục vụ nhu cầu tình dục của đàn ông.

Ở Hà Lan, thế kỉ 17, hình ảnh ngực phụ nữ chính thức trở thành chủ đề bàn luận của những nhà đạo đức học. Lúc này, trong những gia đình tư sản, bộ ngực không chỉ là biểu tượng cho tình mẫu tử, nuôi nấng con cái hay tình dục của đàn ông nữa. Người đàn ông đặt tay lên ngực phụ nữ là để thể hiện sự gần gũi, tình bạn, sự sẻ chia, dịu dàng, và tôn trọng.

Vào thời kỳ này, việc làm đẹp cho ngực phụ nữ tư sản cũng gian nan không kém để thỏa mãn cho tình dục đàn ông. Phụ nữ phải mặc áo ngực với hệ thống vòng khung nâng đỡ làm bằng gỗ và xương cá voi gây bất tiện. Đôi khi kiểu áo ngực này làm gãy xương sườn. 

Vào thế kỷ 18, trong thời kỳ Cách mạng Pháp, ngực trở thành một biểu tượng chính trị. Bức tranh nổi tiếng trong thời Cách mạng Pháp là “Nữ thần Tự Do dẫn dắt nhân dân” (Delacroix’s Liberty Leading the People), mô tả một người phụ nữ là Marianne cầm ngọn cờ ba màu dẫn người dân đi phía sau, đặc biệt là ngực trần không che đậy gì cả. Ngực trần lúc này thể hiện cho sự giải phóng. 

Thời kỳ cách mạng Pháp, việc nuôi con bằng sữa mẹ nhất là ở tầng lớp tư sản được đề cao vì người mẹ có đạo đức là người nuôi dưỡng đứa trẻ trở thành công dân nước Pháp. 

Trong thế chiến thứ nhất, Marianne với hình ảnh đứng cạnh khẩu pháo và mái tóc bay trong gió cùng câu nói “ưỡn ngực thẳng chống lại quân đội Đức” tiếp tục được đưa lên những áp phích cổ động của người Pháp. 

Người Mĩ trong chiến tranh cũng sử dụng hình ảnh Nữ Thần Tự Do như một biểu tượng chính trị. Song, hình ảnh được sử dụng không có yếu tố phô trương bộ ngực dù rằng áo quần mà Nữ Thần Tự Do mặc với sự nhấn mạnh đường cong.

Trong Thế chiến thứ hai, hình ảnh của ngực phụ nữ trên các tấm áp phích bắt đầu trở nên phổ biến. Tác giả cho rằng trong những thời kỳ lịch sử hỗn loạn như vậy thì sự khác biệt giới tính sinh học của nam và nữ được nhấn mạnh hơn, điều đó thể hiện qua hình ảnh cô gái ngực bự trên các tấm áp phích đứng trước mũi máy bay kêu gọi các chàng trai đứng lên bảo vệ Tổ quốc và chống lại kẻ thù.

Thời hậu chiến, điện ảnh Hollywood đã ảnh hưởng rất nhiều đến cách đàn ông trên toàn thế giới nhìn về bộ ngực phụ nữ khi hình ảnh nữ diễn viên như Marilyn Monroe, Gina Lollobrigida và Jayne Mansfield ngực to tràn ngập khắp màn ảnh rộng. 

Các nhà làm phim và nền công nghiệp quảng cáo nhận ra rằng bộ ngực phụ nữ không chỉ hữu dụng trong việc kích động chiến tranh và còn là nguồn thu lợi nhuận cực lớn. Họ đóng vai trò quan trọng trong việc “thương mại hóa/ tình dục hóa” bộ ngực phụ nữ trên phạm vi toàn thế giới.

Hình ảnh quảng cáo với những cô gái ngực đẹp xuất hiện bên cạnh những thứ như trái cây, ô tô, cà phê, và có thể là phân bón cho nông dân, đều khiến những sản phẩm này bán chạy hơn. Điều này khiến cho ở Mỹ, sự sùng bái bộ ngực to lan rộng như ngọn lửa cháy rừng.

Cũng ở Mỹ, văn hóa tình dục hóa bộ ngực cũng bị phân cực và nhiều khi mang tính đạo đức giả. Người ta có thể thấy bình thường khi cô đào Pamela Anderson khoe trương bộ ngực đầy silicon của mình trên truyền thông, nhưng ở một số bang, thì người phụ nữ có thể bị cảnh sát bắt nếu cho con bú ở nơi công cộng. 

Yalom kết luận: khi nhìn thấy ngực thì “những đứa trẻ thấy thức ăn, đàn ông thấy quan hệ tình dục, bác sĩ thấy bệnh tật và kinh doanh thấy đô la”. Ngực của phụ nữ đại diện nhiều thứ từ tình dục, tình yêu, sự nuôi dưỡng. Đáng buồn là ngực phụ nữ ngày nay cũng đại diện cho cái chết khi mà ung thư vú ở phụ nữ đang càng ngày càng gia tăng trên thế giới. 

Ở Việt Nam, báo chí và truyền thông đầy rẫy tin tức về những ngôi sao trình diễn lộ ngực trên sân khấu. Báo chí tràn ngập những bài viết săm soi ngực của các nữ nghệ sĩ – nhất là ca sĩ. 

Mặt khác, phụ nữ cũng chủ động thương mại hóa bộ ngực của mình. Một lựa chọn cho phụ nữ để trở nên nổi tiếng trong giới giải trí ở Việt Nam đó là thay đổi cách ăn mặc với những trang phục khoét sâu táo bạo và nhấn mạnh vùng ngực. 

Điều này cho thấy việc tình dục hóa và thương mại hóa bộ ngực theo mô hình Âu – Mỹ đã ảnh hưởng phần nào ở Việt Nam tạo ra xu hướng sùng bái bộ ngực to khiến phụ nữ tự ti vì ngực nhỏ, buộc mình tìm cách tập luyện, ăn uống, phẫu thuật thẩm mỹ để ngực to ra.

Có một nghịch lý tồn tại trong xã hội hiện đại. Một mặt, người ta cho rằng việc phô bày bộ ngực phụ nữ trên truyền thông là hình thức tôn vinh vẻ đẹp phụ nữ hay giải phóng tình dục nữ giới. Song trên thực tế, người ta đã tầm thường hóa bộ ngực phụ nữ với những pha lộ ngực trên truyền thông và biến ngực phụ nữ thành đối tượng chậm chọc để mua những tiếng cười nhạt nhẽo trong những bộ phim hài nhảm nhí rẻ tiền.

Người viết: Hưng Thịnh

Biên tập: Nguyễn Phúc Anh

Phát thanh viên: Trà Hoa Cúc

Continue Reading

Xin đừng biến thầy cô thành trâu bò – Radio Nhân học kỳ 10

Cải cách giáo dục ở Việt Nam thường là những cải cách chính sách, nặng về xoay chuyển cơ cấu vĩ mô, tập trung chủ yếu vào cải cách nội dung sách giáo khoa, cũng như quy chế thi cử. Song không phải vì vậy mà chính sách giáo dục vĩ mô thực sự ổn. Có quá nhiều vấn đề đang ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học ở Việt Nam.

Vấn đề nghiêm trọng nhất nhìn từ góc độ vĩ mô đó là tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng. Điều này khiến những giáo viên phổ thông ở Việt Nam đang phải è cổ gánh một khối lượng công việc nhiều hơn rất nhiều lần thầy cô ở những quốc gia khác.

Và tình hình này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nếu xảy ra đợt cải cách biên chế sắp tới. Nó sẽ làm ảnh hưởng đến công việc của một lượng lớn giáo viên đang yên tâm công tác trong biên chế.

Điều này có vẻ nghịch lý, nhưng thử search cụm từ “thiếu giáo viên” trên Google. Bạn sẽ hình dung được phần nào tình cảnh đang xảy ra với giáo dục phổ thông Việt Nam. Nhiều trường đang thiếu hụt giáo viên nghiêm trọng.

Và đó là điều có thực chứ không phải chiêu trò vòi biên chế kiếm tiền của những ông bà hiệu trưởng thất đức, nếu nhìn vào số liệu thống kê.

Có một chỉ số mà mọi nền giáo dục hết sức chú ý cân đối khi hoạch định chính sách vĩ mô: tỉ lệ giữa số lượng giáo viên và số lượng học sinh. Số lượng học sinh chia theo đầu giáo viên của Việt Nam hiện giờ đang ở mức độ không hợp lý.

Trung bình một giáo viên phổ thông ở Việt Nam phải đảm nhiệm quán xuyến việc học hành của 17,82 học sinh.

Trong khi đó, trung bình một giáo viên phổ thông ở Mỹ phải đảm nhiệm 12,2 học sinh.

Ở Đức, nơi toàn bộ giáo dục phổ thông do ngân sách nhà nước hỗ trợ, một giáo viên chỉ phải đảm nhiệm 13,5 học sinh.

Ở Nhật Bản, một giáo viên đảm nhiệm 14,71 học sinh.

Ở Hàn Quốc một giáo viên phải đảm nhiệm trung bình 14 học sinh.

Ngay cả ở Trung Quốc, người ta duy trì tỉ lệ 1 giáo viên đảm nhiệm việc học của 14,8 học sinh.

Như vậy nếu so với những quốc gia kể trên, thì một giáo viên phổ thông của Việt Nam hiện phải chịu sức ép chăm sóc, dạy dỗ, và hỗ trợ học hành cho một số lượng học sinh lớn hơn hẳn.

Tình trạng thừa giáo viên chỉ diễn ra cục bộ. Nhìn tổng thể vĩ mô, nền giáo dục phổ thông của Việt Nam đang thiếu giáo viên trầm trọng.

Hơn nữa, ở nhiều quốc gia, đơn cử như ở Trung Quốc, bên cạnh số giáo viên phổ thông trực tiếp đứng lớp là 15,2 triệu người, người ta còn duy trì thêm khoảng 3 triệu người ở các trường làm công tác quản lý hành chính hỗ trợ đào tạo theo tỉ lệ 5 giáo viên phổ thông có 1 nhân viên hành chính.

Nhiều địa phương ở Việt Nam, thầy cô giảng dạy ở phổ thông phải kiêm nhiệm quản lý và đồng thời làm hành chính cho cả trường. Chưa kể những đợt cải cách, những đợt học tập nghị quyết chủ trương, những hoạt động ngoài chuyên môn, những kỳ thi bắt buộc hoặc nửa cưỡng ép, những tiêu chuẩn áp đặt từ trên xuống thay đổi xoành xoạch hàng tháng hàng năm đang ngốn hết quỹ thời gian ít ỏi còn lại. Nền giáo dục quản lý quan liêu đang vắt kiệt quỹ thời gian và sức lực của những thầy cô giáo.

Điều này khiến nhiều thầy cô dạy ở cấp phổ thông phải làm việc quần quật như trâu bò chỉ để đáp ứng được yêu cầu của giảng dạy thông thường và quản lý giáo dục vĩ mô. Hơi sức đâu mà chăm lo và đổi mới chuyên môn. Bế tắc của cải cách giáo dục nằm ở chỗ nó đang biến thầy cô thành trâu bò theo nghĩa đen.

Làm người ai cũng chỉ có 24 giờ. Đảm nhiệm công việc chuyên môn đã quá tải, cộng với những công việc hành chính không tên, những hoạt động ngoài chuyên môn kì quặc, thầy cô giáo ở bậc học phổ thông chắc chắn không có thời gian để sống và nuôi dưỡng tâm huyết để dạy dỗ học trò.

Continue Reading