TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN THƯ VIỆN NHÂN HỌC

Dự án Thư viện Nhân học là một dự án hoàn toàn phi lợi nhuận. Nguồn tài chính của Thư viện Nhân học đến từ: 1) nguồn tiền đóng góp của các thành viên, 2) tiền tài trợ của các cá nhân – tổ chức, 3) tiền thu được từ việc tham gia các dự án nghiên cứu. Toàn bộ số tiền thu được sẽ được tái đầu tư HOÀN TOÀN cho phát triển Thư viện.

Thư viện của chúng tôi chủ trương: tập hợp toàn bộ những tư liệu nghiên cứu hoặc phục vụ nghiên cứu về Việt Nam ở nước ngoài bằng các thứ tiếng Anh – Trung – Việt – Nhật – Hàn – Pháp về một nơi để tiện cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước có thể sử dụng dễ dàng. Thành viên Thư viện Nhân học có thể sử dụng không hạn chế, và hoàn toàn miễn phí toàn bộ dữ liệu và dịch vụ của thư viện Nhân học. Chi phí duy nhất cố định là 500,000 VNĐ (tương đương $23) một năm để trở thành thành viên của Thư viện Nhân học

Nhận thức được rằng, tự thân việc sưu tầm, lưu trữ tập trung, xử lý, và công bố tư liệu tuy hữu ích, nhưng KHÔNG ĐỦ để thúc đẩy và tạo ra những thay đổi thiết thực trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và trong bản thân đời sống xã hội. Những người sáng lập Thư viện chủ trương phát triển Thư viện Nhân học thành cầu nối tri thức, giới thiệu những nghiên cứu mới nhất về Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới bằng tiếng Việt. Đồng thời giới thiệu nghiên cứu mới xuất bản ở Việt Nam bằng tiếng Việt ra nước ngoài bằng tiếng Anh.

Thư viện sẽ tham gia tích cực vào thảo luận và giải quyết những vấn đề xã hội một cách khách quan, trung lập, từ góc độ học thuật. Điều này sẽ góp phần thay đổi tích cực cách chúng ta tiếp nhận và thực hành nghiên cứu khoa học xã hội.

Những công việc kể trên được kỳ vọng sẽ đem đến những thay đổi thực chất trong nghiên cứu khoa học xã hội, đảm bảo cho những nhà nghiên cứu trong nước được quyền tiếp cận BÌNH ĐẲNG tư liệu nghiên cứu như những đồng nghiệp ở nước ngoài.

Không có bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin và tư liệu nghiên cứu thì không có nghiên cứu tốt, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Không có nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế, không có chuyện nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục khoa học xã hội. Việc đem đến sự BÌNH ĐẲNG trong việc tiếp cận tư liệu nghiên cứu kèm theo những chỉ dẫn tư liệu hữu ích cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước sẽ giúp Việt Nam có được những trường Đại học bình thường như bao Đại học khác trong khu vực và trên thế giới.

Đây sẽ là Thư viện phục vụ nghiên cứu Việt Nam có quy mô lớn nhất thế giới. Tính đến ngày 12 tháng 03 năm 2017, Thư viện đã có 170 ngàn đầu tư liệu đã qua chỉnh lý với hơn 10 triệu đầu tư liệu đã và đang trong quá trình chỉnh lý. Dữ liệu thô của thư viện hiện nay đã được số hóa và sưu tầm từ khắp nơi trên thế giới về hiện giờ đã chạm mức: 96 ngàn GB.

Dữ liệu của Thư viện hiện đang được cập nhật hàng ngày bởi những cộng tác viên và nhân viên Thư viện. 

CÁC DỊCH VỤ THƯ VIỆN CUNG CẤP

  • Kho tư liệu số hóa nghiên cứu về Việt Nam và phục vụ nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước (miễn phí cho thành viên Thư viện). Kho tư liệu số hóa được cấu trúc theo một kiểu chưa từng có trước đây. Kho sách là tập hợp của nhiều account Google KHÔNG GIỚI HẠN DUNG LƯỢNG lại với nhau. Mỗi khi có người dùng mới tham gia, dữ liệu sẽ được copy toàn vẹn vào tài khoản của người dùng, đảm bảo dữ liệu của thư viện sẽ không bao giờ bị mất, và được nhân bản theo phương pháp giống như “nhân bản tế bào”.
  • Hỗ trợ tìm kiếm báo, tạp chí, sách vở, luận án nghiên cứu về Việt Nam ở nước ngoài (miễn phí cho thành viên Thư viện)
  • Dịch vụ đặt hàng số hóa những sách mới xuất bản về Việt Nam ở nước ngoài theo danh mục sách mới xuất bản có sẵn (miễn phí cho thành viên Thư viện). Danh mục này được cập nhật hàng ngày, hoàn toàn tự động, bao gồm thông tin xuất bản và mục lục những sách nghiên cứu mới xuất bản ở Bắc Mỹ và châu Âu.
  • Dịch vụ cung cấp tư liệu cho các dự án nghiên cứu trong và ngoài nước (chi phí thỏa thuận)

Toàn bộ tư liệu do Thư viện hỗ trợ người dùng lấy sẽ được đưa hoàn toàn vào thư viện để mọi thành viên khác đều có thể truy cập và sử dụng KHÔNG HẠN CHẾ.

VỀ MẶT TÀI CHÍNH

Nguồn thu của Thư viện đến từ: 

  • Nguồn thu do thành viên Thư viện đóng góp. Mỗi thành viên tham gia thư viện đóng 500 ngàn đồng 1 năm để có thể sử dụng toàn bộ dữ liệu thư viện.
  • Nguồn thu do ủng hộ và tài trợ của cá nhân – tổ chức trong và ngoài nước.
  • Nguồn thu từ việc tham gia các dự án trong và ngoài nước

Dự tính những nguồn thu trong tương lai:

  • Nguồn thu từ hoạt động xuất bản của thư viện (viết bài, dịch thuật, xuất bản tư liệu)
  • Nguồn thu từ bán quảng cáo trên website thư viện cho những bộ sưu tầm sách cổ miễn phí ở www.quochoc.org
  • Nguồn thu từ khai thác, phân tích dữ liệu thư viện bằng trí tuệ nhân tạo (Bigdata kết hợp với AI, đang xây dựng)
  • Nguồn thu từ việc xây dựng và thương mại hoá mã nguồn thư viện Nhân học. Biến mã nguồn thư viện Nhân học thành mã nguồn phổ biến cho các thư viện không giới hạn dung lượng khác trên thế giới.

Chi phí chính cho thư viện hiện giờ bao gồm:

  • Chi phí làm tài khoản Google không giới hạn dung lượng cho mỗi thành viên đăng ký: 200 ngàn đồng/ 1 tài khoản/ 1 năm (lấy từ chi phí hội viên do hội viên thư viện đóng góp hàng năm)
  • Chi phí cho các máy chủ đẩy và khai thác dữ liệu: gồm 6 VPS ($20 một tháng, 120 usd 1 năm), tổng cộng: 720 usd 1 năm (lấy từ chi phí do hội viên thư viện đóng góp)
  • Chi phí cho việc chỉnh lý tư liệu: 6 triệu/2 người/1 tháng = 72 triệu / 1 năm (lấy từ chi phí do hội viên thư viện đóng góp)
  • Chi phí duy trì domain và hosting cho website nhanhoc.org = 3 triệu/1 năm (domain và hosting) (do Nguyễn Phúc Anh chi)
  • Chi phí đầu tư xây dựng mã nguồn đặc thù cho thư viện, tổng đầu tư tính từ tháng 01 năm 2016 đến nay là 90 triệu đồng (vẫn còn tiếp tục – Nguyễn Phúc Anh chi không cần hoàn lại).
  • Chi phí hỗ trợ tình nguyện viên mượn sách thư viện, mang đi scan, chỉnh lý và gửi về Việt Nam: $20/1 đầu sách (lựa chọn kĩ càng, yêu cầu phải là sách hay và mới xuất bản). Trong tương lai, TOÀN BỘ SỐ TIỀN còn dư của thư viện sau khi trừ hết các khoản chi phí khác sẽ lại được đầu tư để sao chụp thêm tư liệu quý hiếm từ khắp nơi trên thế giới để đưa về Thư viện (hiện đang do Nguyễn Phúc Anh chi trả)

Tổng thu của thư viện: 152 triệu đồng (thư viện hiện có 292 thành viên) tính đến ngày 13 tháng 03 năm 2017.

Chi phí đầu tư còn lại được đầu tư bằng tiền cá nhân của Nguyễn Phúc Anh (không cần hoàn lại). Tính từ tháng 03 năm 2016 đến nay, tổng chi phí đã đầu tư là 325 triệu đồng.

VỀ MẶT TƯ LIỆU CỦA THƯ VIỆN

Trên nguyên tắc, Thư viện Nhân học sẽ sưu tầm toàn bộ tư liệu về Việt Nam hoặc phục vụ nghiên cứu Việt Nam xuất bản bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Trung, Hàn, Nhật, Việt Nam, Hán Nôm. Song, trong giai đoạn đầu, Thư viện Tập trung kết tập những tài liệu:

  • Tư liệu MỚI NHẤT thuộc các phân ngành Khoa học Xã hội về Việt Nam xuất bản ở nước ngoài.
  • Tư liệu cổ quý hiếm liên quan đến Việt Nam ở nước ngoài
  • Tư liệu nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt, ở Việt Nam.
  • Tư liệu phim ảnh phục vụ cho nghiên cứu Việt Nam
  • Tư liệu phục vụ cho việc tự học và nâng cao trình độ tiếng Anh.
  • Những tư liệu mà người dùng – thành viên Thư viện yêu cầu.

VỀ MẶT ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN

Khi đăng ký thành viên thư viện, Thư viện sẽ làm tài khoản Google KHÔNG GIỚI HẠN DUNG LƯỢNG và gửi thành viên sử dụng. 

Thành viên có thể chọn kết nối qua tài khoản Google có sẵn. Dung lượng Thư viện trong trường hợp này sẽ không chiếm dụng dung lượng tài khoản Google của mọi người.

Chi phí duy trì tài khoản 1 năm là 500 ngàn đồng Việt Nam. 

Về mặt chuyển khoản: có thể chuyển vào một trong số những tài khoản sau. Sau khi chuyển khoản, xin anh chị nhớ giữ giấy biên nhận hoặc chụp ảnh màn hình thông báo chuyển khoản.

(Xin anh chị ghi chú khi chuyển tiền để nhân viên của Thư viện Nhận ra chuyển khoản của anh chị)

VIETCOMBANK

Chủ tài khoản: VU THU HANG,  Số tài khoản: 0541000191660

Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Chương Dương

BIDV

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG.

Số tài khoản: 12310000708707

BIDV Quang Trung

SACOMBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG. Số Tài khoản: ‎020044241286.

Ngân hàng Sacombank, chi nhánh Long Biên

VIETINBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG

DDA 106003392248 Chi nhánh Hoàn Kiếm

TECHCOMBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG

Số Tài khoản: 19031418934550

Chi nhánh Hà Thành

NƯỚC NGOÀI

Phương án 1: Tài khoản Paypal npa@ussh.edu.vn

Phương án 2: Bank of America: Routing Number: 011000138, account number: 004662946236, account holder: Phuc Anh Nguyen, email ở BOA: npa@ussh.edu.vn

—————-

Mọi ý kiến, thắc mắc xin liên hệ email: me@nguyenphucanh.net

Trợ giúp kĩ thuật: Nguyễn Phúc Anh, Facebook:

https://www.facebook.com/anhnp86

Continue Reading

IMPACT: The Effects of Tourism on Culture and the Environment in Asia and the Pacific: Cultural Tourism and Heritage Management in the World Heritage Site of the Ancient Town of Hoi An, Viet Nam

sshot-1

 

Tải về ebook liên quan từ đường dẫn: IMPACT: The Effects of Tourism on Culture and the Environment in Asia and the Pacific: Cultural Tourism and Heritage Management in the World Heritage Site of the Ancient Town of Hoi An, Viet Nam.

Nguồn: http://unesdoc.unesco.org

Continue Reading

Giấc mộng Hoàng Lương

Nguồn: http://www.ussh.vnu.edu.vn/d4/news/Giac-mong-Hoang-Luong-1-11532.aspx

PGS.TS Nguyễn Văn Chính

Khỏi phải nói tôi đã bàng hoàng như thế nào khi nhận được tin nhắn cho biết anh Hoàng Lương phải đi cấp cứu ở bệnh viện, tình hình nguy kịch lắm, chắc không qua khỏi. Tôi đã thầm nguyện cầu cho anh lần này sẽ lại vượt qua Thần Chết, như đã hai lần anh từng vượt qua vài năm về trước để ở lại với đời. Anh từng nói với nhiều bạn đồng nghiệp rằng anh đã đi qua cái chết rồi thì Thần Chết còn lâu mới gọi tên anh. Nhưng lần này có vẻ không phải như vậy. Sáng nay,tin nhắn của học trò và đồng nghiệp đến với tôi dồn dập hơn: Thầy Lương đã hôn mê sâu rồi! Tôi lặng người đi, không biết nói gì lúc sinh ly tử biệt cận kề này. Và rồi điều gì đến đã phải đến. Lúc 13 giờ 15 phút chiều nay, Thứ Sáu, ngày 13 tháng 2 năm 2015, một trái tim từng nóng bỏng yêu thương dành cho gia đình, bè bạn, đồng nghiệp và nhiều thế hệ sinh viên đã ngừng đập. Anh đã rời bỏ cuộc đời này khi vẫn đang còn miệt mài chuẩn bị cho ra mắt cuốn sách tổng kết cuộc đời 40 năm làm khoa học và đào tạo để kỷ niệm sinh nhật lần thứ 70 của mình. Mới chỉ vài ngày trước đây thôi, tại buổi bảo vệ luận án tiến sỹ của một nghiên cứu sinh do anh hướng dẫn, giọng anh vẫn còn đầy hào sảng khi nói về tính độc đáo trong dân ca quan họ và làm thế nào để bảo tồn di sản văn hóa có một không hai này. Nhớ đến hình ảnh cuối cùng của anh hôm đó, tôi bỗng thấy mắt mình nhòe lệ. Và cuộc đời anh cứ từ từ hiện ra trong ký ức tôi, như một cuốn phim quay chậm đến từng chi tiết, cứ như thể nó mới chỉ vừa đến từ hôm qua vậy. Với tôi, anh như vẫn đang sống, đang nheo mắt cười tươi với mọi người.

Tôi về nhận công tác ở Bộ môn Dân tộc học sau Hoàng Lương mấy năm (anh tốt nghiệp năm 1976, khóa 16 Khoa Sử Đại học Tổng hợp Hà Nội), nhưng về tuổi tác, tôi thua anh đúng một con giáp. Anh sinh ngày 7 tháng 12 năm 1944, tuổi Giáp Thân, mệnh tuyền lưu thủy. Cuộc đời hơn 70 năm của anh cũng giống như chính cái số mệnh anh được sinh ra, là một “dòng nước chảy trong suối”. Cái tên của anh cũng rất đặc biệt. Hoàng Lương, theo Hán tự, có nghĩa là “kê vàng”. Tên gọi này gắn với một điển tích văn chương có từ đời nhà Đường, nói về “giấc mộng hoàng lương” với những ngụ ý sâu xa về lẽ sống ở đời.
hoang luong 1

Tôi vẫn nhớ những ấn tượng đầu tiên khi gặp anh. Đó là một con người mộc mạc, chân thật, dễ gần, và khá cởi mở. Thế giới của anh những năm đầu ở lại làm việc tại khoa Sử là một góc nhỏ trong căn phòng tập thể. Tôi ấn tượng nhất trong không gian sống hạn hẹpấy là một cái giá sách lúc nào cũng đầy ắp những cuốn tiểu thuyết lãng mạn rất thời thượng hồi ấy như Ruồi Trâu, Hội chợ Phù hoa, Bố Già, Trăm năm cô đơn, Tiếng chim hót trong bụi mận gai, v.v. Làm nghiên cứu dân tộc học nhưng anh có lẽ cũng rất yêu văn chương. Anh tự cho mình là con người lãng mạn. Anh thích thổi sáo và hát những bài tình ca. Tôi còn nhớ khi lên thăm Sa Pa hồi giữa những năm 1990, nửa đêm anh vẫn lang thang trên phố, đứng giữa con đường dốc bên khách sạn Fansipan còn lại từ thời thực dân và cất tiếng hát bản Tình Ca Tây Bắc, say sưa tưởng như quên cả lối về. Biết anh yêu cái đẹp, khi sang Hà Lan công tác, tôi gửi về cho anh một bưu thiếp có hoa tuy-lip mô phỏngbóng hình một người con gái. Anh đã cất giữ chiếc bưu thiếp này nhiều năm trên giá sách, và mỗi khi có bạn bè đến chơi, anh lại lấy nó ra khoe như một thú chơi tao nhã. Nhưng anh cũng là người rất thực tế, và nấu ăn rất ngon. Anh luôn biết chắt chiu từng hạt gạo trong cái khẩu phần nhỏ nhoi thời bao cấp để đến cuối tháng không phải nháo nhào đi vay gạo hay ăn chực như bọn trẻ chúng tôi. Trong khi cả gia tài của phần lớn cán bộ giảng dạy hồi ấy chỉ là mấy bộ quần áo và chiếc giường con với manh chiếu mỏng thì trên giường của anh lúc nào cũng đầy đủ bộ ba chăn-gối-đệm của người Thái. Anh bảo những thứ ấy đem từ quê xuống, do vợ anh làm, anh dùng nó như một cách để luôn cảm nhận được tình yêu của người vợ và mùi vị của quê hương.

Tôi trở nên gần gũi với anh hơn sau khi từ quân ngũ về lại Bộ môn Dân tộc học. Như một thói quen hồi bấy giờ, đám đàn ông độc thân của khoa Sử hay tụ tập ở chỗ anh để hóng hớt mà các câu chuyện dù theo hướng nào thì cuối cùng cũng trở về với chủ đề tình yêu, đàn bà, và những quan niệm khác nhau về giá trị của cuộc sống. Đôi khi trong lúc trà dư tửu hậu như thế, những cuộc tranh luận nho nhỏ vẫn hay xảy ra, và anh thường phớt lờ các ý kiến khác để bảo vệ quan điểm độc đáo của mình. Trong khi đời sống xã hội những năm 80 đầy rẫy những bon chen, xô bồ, giành giật thì anh dường như vẫn không quan tâm đến thế sự, không thích tranh giành cho mình một lợi thế nào mà thường bằng lòng với những gì đang có. Anh hay giúp đỡ mọi người bằng cách cho mượn thẻ thương binh để mua hàng bao cấp. Có khi anh đích thân đạp xe đi xếp hàng mua hộ người này người kia dù chỉ là vài lạng thịt, cân cá hay mấy bìa đậu phụ. Cũng có người không thích cái tính giản dị chân thật đến mộc mạc của anh nhưng anh bỏ qua tất cả. Là người dân tộc Thái, lại là thương binh, anh hoàn toàn có thể sử dụng những ưu thế ấy để kiếm cho mình một suất nghiên cứu sinh nước ngoài như hầu hết cán bộ trẻ ở trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hồi ấy thường ao ước để tìm đường tiến thân, nhưng anh đã không chạy chọt bon chen để được như vậy. Có người nói anh dại, anh cười hớ hớ, nói ở đời chẳng biết thế nào là dại là khôn. Có lẽ cả cuộc đời mình, anh đã chờ đợi một sự công bằng nào đó và tin là nó có thật trên đời.Trong các cuộc tranh luận, anh rất sôi nổi và cởi mở nhưng lại hay chọn giải pháp chấp nhận nhường nhịn thay vì tranh giành phần hơn về mình. Khi sắp về hưu, được nhận danh hiệu nhà giáo ưu tú, anh vui vẻ cho rằng âu đây cũng là một ghi nhận của nhà nước đối với đóng góp của anh cho sự nghiệp trồng người.

Trong lịch sử bộ môn Dân tộc học trước đây và Nhân học hiện nay, Hoàng Lương có một vị trí quan trọng trong công tác quản lý, đào tạo và phát triển. Là người đảm nhiệm trên cương vị chủ nhiệm bộ môn tới hai nhiệm kỳ nhưng anh không làm quản lý bằng những “thủ đoạn” như cách anh hay ví von mà bằng sự chân thật và lòng nhiệt thành. Sinh viên nhiều thế hệ đã từng học môn Dân tộc học của anh đều có chung cảm nhận anh dậy học bằng một tình yêu cháy bỏng với nghề nghiệp, và đã truyền được cái cảm hứng say mê ấy đến với học trò. Nhiều sinh viên thú nhận rằng họ đến với dân tộc học là nhờ dự giảng các môn học của thầy Hoàng Lương. Điều này thật khác xa với một số giảng viên tự cho mình là người có kinh nghiệm giảng dạy trong khi vẫn chỉ sử dụng những ghi chép cũ rích từ nhiều thập kỷ trước làm bài giảng, và mỗi khi lên lớp thì thản nhiên ngồi đọc lại cho học trò chép, làm cho sinh viên thấy nản với môn học này. Trong quá trình giảng dạy, Hoàng Lương đã cố gắng tìm kiếm những sinh viên tài năng và khuyến khích họ đi theo con đường khoa học để đến hôm nay chúng ta có những tiến sỹ nhân học đầy triển vọng như Trương Huyền Chi và Nguyễn Thị Thu Hương. Cả hai người này đều nhận bằng tiến sỹ ở những trường đại học nổi tiếng của châu Âu và Bắc Mỹ nhưng trong sâu thẳm tâm thức  mình, chắc họ sẽ không bao giờ quên người thầy đầu tiên đã truyền cho họ lòng yêu nghề chính là Hoàng Lương. Có lẽ sẽ còn có nhữngquan điểm khác nhau tranh luận về phương pháp dạy học ở đại học theo kiểu Hoàng Lương. Có người tin rằng mỗi bài giảng phải được chuẩn bị theo một đơn vị kiến thức nhất định và người thầy khi lên lớp thì cứ thế mà truyền đạt tới học trò. Nhưng Hoàng Lương không mấy khi đi theo cái khuôn mẫu gò bó ấy. Anh vẫn tin và kiên trì đi theo cách của mình, rằng người thầy khi trên lớp không cần phải chứng tỏ kiến thức uyên bác hàn lâm của mình, mà có thể bằng cách nêu lên các gợi mở khoa học, tạo cho sinh viên lòng say mê với những vấn đề được nêu ra để từ đó tự mình khám phá chân trời tri thức mới. Ngay cả sau khi đã nghỉ hưu, anh vẫn đi dạy học, không phải để kiếm mấy đồng tiền công bèo bọt, mà để được thỏa mãn nỗi đam mê kết nối với học trò và truyền lại cho họ lòng yêu nghề của mình. Tôi không có nghi ngờ gì rằng anh là một người thầy dạy học đã yêu cái nghề của mình đến hơi thở cuối cùng.
hoang luong(1)

PGS. TS Hoàng Lương trên đường khám phá Sipsong Banna (Vân Nam, Trung Quốc, tháng 8/2009). Ảnh: Nguyễn Văn Chính.

Lịch sử ngành nhân học Việt Nam cũng cần phải ghi nhận đóng góp của PGS Hoàng Lương như một trong những người tiên phong khai mở con đường cho sự chuyển đổi từ tiếp cận dân tộc học sang nhân học. Đầu những năm 1990, trong trào lưu đổi mới học thuật, chính Hoàng Lương, với tư cách là chủ nhiệm bộ môn, đã bắt tay vào làm đề án đổi mới dân tộc học bằng việc đưa tiếp cận nhân học vào nghiên cứu và giảng dạy ở bộ môn dân tộc học thuộc Khoa Sử. Tuy nhiên ý kiến của anh vấp phải sự phản đối dữ dội, thậm chí không thiếu những người mỉa mai, đánh giá thấp nỗ lực của anh. Một số người thậm chí còn cười nhạo khi cho rằng anh đã làm một công việc viển vông, đòi đổi mới một môn học mà mình chưa nắm chắc. Cũng có ý kiến nghi ngờ liệu trên thế giới này có một chuyên ngành khoa học gọi là nhân học văn hóa – xã hội hay không. Hoàng Lương dù bị đẩy vào tình thế hoang mang sau khi đề xuất của anh bị Hội đồng Khoa học thẳng thừng bác bỏ, nhưng anh đã không vì thế mà nản lòng. Tham khảo ý kiến từ đồng nghiệp, anh đã viết thư cho một số giáo sư nhân học nổi tiếng ở các đại học lớn trên thế giới để nhờ họ giúp giải đáp về ngành nhân học. Một trong số ấy là Giáo sư Lương Văn Hy ở Đại học Toronto (Canada) đã trả lời anh với những góp ý chân thành, làm cho Hoàng Lương vững tin hơn để kiên trì thuyết phục đồng nghiệp ủng hộ đề xuất của mình. Giờ đây, hơn hai thập kỷ đã qua kể từ khi Hoàng Lương đề xuất đổi mới dân tộc học ở Khoa Sử theo hướng nghiên cứu nhân học, chúng ta thấy hầu hết các đại học lớn của Việt Nam đã có bộ môn nhân học, và ngành học này đã được cấp mã ngành chính thức trong chương trình đào tạo ở cả ba bậc học từ đại học đến trên đại học. Tôi tin rằng giờ đây Hoàng Lương đã có thể ngậm cười nơi chín suối vì trước khi về với thế giới vĩnh hằng, anh đã nhìn thấy những lứa cử nhân, thạc sỹ và tiến sỹ ngành nhân học tốt nghiệp chuyên ngành mà anh là người khai phá mở đường.

Là người làm nghiên cứu đã xuất bản nhiều bài báo khoa học, giáo trình và sách chuyên khảo (Hoa văn Thái (1988), Lễ hội truyền thống và tín ngưỡng dân gian các dân tộc (2002), Luật tục và việc bảo tồn phát huy di sản văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Bắc (2004), Văn hóa các dân tộc vùng Tây Bắc Việt Nam (2005), v.v. nhưngHoàng Lương vẫn chỉ tự nhận mình là một người làm khoa học “phọt phẹt”. Theo anh, chương trình đào tạo ở Khoa Sử chỉ giảng một số chuyên đề dân tộc học trong học kỳ thứ nhất của năm thứ tư, sau đó sinh viên đi thực tập làm luận văn tốt nghiệp. Anh bảo đấy là hệ thống đào tạo ra các nhà dân tộc học nửa mùa. Tuy nhiên, anh thuộc về tuýp người làm khoa học theo kiểu dấn thân. Ngay từ khi còn là sinh viên năm thứ tư ngành dân tộc học, anh đã lựa chọn nghiên cứu người La Chí để làm luận văn tốt nghiệp. Đây là một tộc người có dân số nhỏ, sống biệt lập ở vùng núi cao tỉnh Hà Giang. Vào những năm 1970 dân số của nhóm này chưa đến 10 ngàn người, chủ yếu sống ở các bản xa xôi thuộc hai huyện vùng cao Xín Mần và Hoàng Xu Phì. Chỉ những người có tinh thần lãng mạn khoa học và tính phiêu lưu mới chấp nhận đi đến đây để nghiên cứu. Sau này anh kể những bản làng nhỏ bé nghèo khó nơi heo hút mà anh đã đến có nhiều người bị mắc bệnh hủi (cùi). Nhưng anh đã không vì thế mà rời xa họ cho đến khi thu thập được tài liệu trở lại trường làm luận văn tốt nghiệp. Trong ký ức thực địa của anh,ở vùng núi đá Hà Giang không có khái niệm khổ, chỉ có những cánh rừng bạt ngàn hoa loa kèn làm anh sững sờ khó cất bước chân đi. Luận văn tốt nghiệp đại học của anh năm đó đạt loại xuất sắc. Những thông tin mà anh thu thập được đã giúp các nhà dân tộc-ngôn ngữ học rất nhiều trong việc phân ngành ngôn ngữ các tộc người. Cuối những năm 1990, anh được mời sang Mỹ và có dịp làm việc với GS Paul K. Benedict, một nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tộc người nổi tiếng. Anh đã cung cấp cứ liệu để giúp củng cố giả thuyết về ngữ hệ Tai – Kadai mà Benedict là người chủ trương. Trong phân loại truyền thống, ngôn ngữ Kradai được xem là một bộ phận nằm trong nhóm ngôn ngữ Tạng Miến thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Hoàng Lương đã không biết rằng những cứ liệu ngữ học mà anh thu thập ở người La Chí đã góp phần củng cố giả thuyết khoa học về mối liên hệ giữa ngôn ngữ Nam Á (Austroasiatic) và Nam Đảo (Austronesia) trong ngữ hệ Tai – Kadai cho đến khi anh gặp được Benedict.

Hoàng Lương là người đầu tiên trình luận án tiến sỹ dân tộc học theo chương trình đào tạo trong nước tại Khoa Sử vào năm 1985. Luận án tiến sỹ của anh “Hoa văn mặt chăn Thái Mường Tấc (Phù Yên – Sơn La) đã sử dụng hoa văn mặt chăn của người Thái như một cứ liệu vật chất để từ đây lần tìm ra mối liên hệ cội nguồn giữa các cư dân nói ngôn ngữ Thái và Việt Mường trong thời đại văn hóa Đông Sơn. Dù còn nhiều tranh cãi về cơ sở khoa học, luận án của anh đã mở ra một hướng nghiên cứu mới về quan hệ lịch sử tộc người qua cứ liệu hoa văn. Hướng nghiên cứu này đã được anh tiếp tục phát triển sau này qua các bài báo khoa học đăng rải rác trên các tạp chí chuyên ngành, trong đó cứ liệu ngôn ngữ và địa danh cổ được cho là có vai trò quan trọng trong dân tộc học lịch sử.

Trong khi say sưa khám phá mối quan hệ lịch sử tộc người, Hoàng Lương vẫn đau đáu một niềm khao khát đóng góp tri thức cho hiểu biết về dân tộc Thái của mình. Anh là người phụ trách Chương trình Thái học của trường, đã cho công bố nhiều nghiên cứu về người Thái và mối quan hệ Thái – Việt Mường và Thái – Môn Khmer. Nghiên cứu của anh trong lãnh địa này góp phần nêu ra một giả thuyết về nguồn gốc bản địa của nhóm Táy Khao. Trong nhiều năm, anh cộng tác với các nhà Thái học thuộc Đại học Mahidol biên soạn từ điển tiếng Thái trong khu vực. Năm 2009, Hoàng Lương đã tham dự đại hội lần thứ 16 của Liên hiệp hội Quốc tế về Dân tộc học và Nhân học (CUAES)  tổ chức tại Đại học Vân Nam, Trung Quốc. Tại đại hội này, Hoàng Lương đã trình bầy một báo cáo khoa học về quan hệ xã hội giữa người Thái và người Khmu thông qua cứ liệu phả hệ và thông tin định tính. Sau đại hội, anh đã đi Sip-Song-Bản-Na, nơi được coi là cội nguồn phát tích dân tộc Thái, để nghiên cứu thực địa. Dù lúc này tuổi đã ngoài 60, anh vẫn hăm hở trèo đèo lội suối, vượt sông Mekong bằng thuyền để đi đến các bản làng xa xôi của người Thái Vân Nam, cứ như thể anh đang được về nhà vậy. Anh đặc biệt quan tâm đến vấn đề bản sắc văn hóa Thái và du lịch tộc người ở Vân Nam sau khi dự lễ hội du lịch té nước ở Muang La. Có thể thấy những nỗ lực không mệt mỏi của anh đã góp phần sản xuất và phân phát nhiều tri thức mới về người Thái Việt Nam và quan hệ của nó với các tộc người trong khu vực. Vẫn còn quá sớm để đưa ra một nhận định có tính khẳng định về những phát hiện của anh nhưng chắc chắn các giả thuyết mà nghiên cứu của anh gợi lên về lịch sử tộc người đã cung cấp thêm một nguồn thông tin có giá trị để các nhà khoa học tiếp tục đi sâu.

Trước khi nghỉ hưu, Hoàng Lương đã nói với tôi về dự định sẽ viết một cuốn sách tổng kết cuộc đời làm khoa học của anh. Anh dự định đặt tên cho cuốn sách là “Đường về Tây Bắc”. Tôi hỏi sao lại là đường về, anh nói luôn không cần suy nghĩ lâu: Dù nghiên cứu gì gì đi nữa thì Tây Bắc vẫn là cái nôi sinh ra anh, nơi anh lớn lên và trong cả cuộc đời làm khoa học, anh luôn nghĩ về nó, khám phá nó, nơi có những bản làng xinh đẹp, núi non hùng vỹ, văn hóa đa dạng nhưng đều có một điểm chung là bản tính con người tuy ôn hòa mà nồng hậu. Ngừng một lát, anh nói thêm: Và cho đến khi rời xa thế giới này, tôi cũng sẽ lại quay về nơi chôn nhau cắt rốn ấy. Có vẻ như đến hôm nay, giấc mơ của anh đã gần như được trọn vẹn nếu cuốn sách anh ấp ủ sớm được ra mắt bạn đọc. Nhưng không sao, chắc chắn nó sẽ được in ra để người thân, bạn bè, đồng nghiệp, và lớp lớp học trò, khi cầm nó trên tay, sẽ hiểu thêm về anh, về những tri thức anh muốn trao truyền đến cho họ.

Để kết thúc mấy dòng tưởng nhớ anh, tôi muốn quay lại câu chuyện về “giấc mộng hoàng lương” mà lúc sinh thời anh thường nói đến.

Truyện kể rằng ngày xưa có một chàng trẻ tuổi ôm giấc mộng vinh hoa, đã cố công đi thi nhưng không đỗ, trên đường về có rẽ vào một quán cơm xin nghỉ dừng chân. Một người già sau khi nghe chuyện của anh, bèn cho mượn một chiếc gối để ngả lưng. Trong giấc ngủ vùi, chàng trai chìm vào một giấc mơ kỳ lạ. Anh thấy mình được sống trong nhung lụa, vợ đẹp con khôn, đi thi đỗ đến trạng nguyên và được phong đến chức tể tướng. Trong lúc đang ở trên đỉnh cao danh vọng, anh bị người khác ganh ghét vu cho tội mưu phản và bị bắt. Trước khi bị tống giam, anh nói với vợ: “Nhớ lại khi xưa lúc ta còn mặc áo vải đi lang thang trên phố, tuy nghèo khổ nhưng lại tự do, ăn thấy ngon miệng, ngủ cũng ngon giấc. Nay thì chẳng còn gì nữa”. Rồi khi được minh oan và phục chức, vị cựu quan không còn ham danh vọng, muốn cáo lão về quê nhưng không được nên đã buồn rầu mà chết. Đến lúc này, giấc mơ tan biến, và chàng trai trẻ tỉnh giấc mộng, mở mắt ra thấy bên cạnh nồi kê mới chín tới vàng ươm, tất cả thực tại vẫn nguyên như cũ. Anh chàng bỗng thốt lên: Thì ra chỉ là một giấc mơ!

Nghe nói câu chuyện lần đầu xuất hiện trong cuốn tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường có tên là “Thẩm trung ký”. Câu chuyện tuy giản dị nhưng nó đã cố gắng đưa ra một lý giải sâu xa dựa trên triết lý hư vô của đạo Lão và đạo Phật về lẽ sống ở đời, trong đó xem cuộc đời của mỗi con người trên cõi dương gian này cũng chỉ giống như một giấc mơ. Con người ta khi sống ở trên đời thường bon chen giành giật cũng chỉ vì cái danh cái lợi. Nhưng tất cả những thứ vinh hoa phú quý hay đói khổ chịu đựng ấy, cuối cùng cũng đều trở thành vô nghĩa, giống như giấc mộng hoàng lương mà thôi.

Hoàng Lương ơi, anh đã trở về với cõi hư vô nhưng những gì anh đã cống hiến cho khoa học, cho cuộc sống này sẽ mãi mãi không bao giờ tan biến như giấc mộng hoàng lương. Tôi tin rằng anh sẽ luôn như một dòng suối mát lành của núi rừng Tây Bắc, đem lại sức sống mới cho thế hệ sau anh đi tiếp trên cuộc đời gian khó này, để mang đến cho đời niềm tin yêu và ánh sáng của tri thức.

Viết tại Hà Nội đêm 13 tháng 2

Continue Reading

Bốn thế hệ nhân học nghiên cứu về nông dân Malaysia

Zawawi Ibrahim (Bùi Thế Cường chuyển ngữ), bài viết đăng trên Tạp chí Khoa học xã hội của Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ

[Thông tin về bài viết đc chia sẻ bởi PGS.TS Vương Xuân Tình, Viện Dân tộc học, Viện KHXHVN]
1

Bạn đọc quan tâm có tải về bài viết liên quan từ 1 trong các đường dẫn sau:

1. Zawawi Ibrahim Bon Thehe Nhanhoc Nghiencuu Ve Nongdan Malay

Hoặc

2. Bốn thế hệ nhân học nghiên cứu về nông dân Malaysia (mediafire link)
3. tài khoản academia.edu của học giả Bùi Thế Cường http://www.academia.edu/11566306/B%E1%BB%91n_Th%E1%BA%BF_h%E1%BB%87_Nh%C3%A2n_h%E1%BB%8Dc_Nghi%C3%AAn_c%E1%BB%A9u_v%E1%BB%81_N%C3%B4ng_d%C3%A2n_Malay

(Ghi chú: Bản dịch đăng tải ở 3 links trên đều bị thiếu trang 134 (chứa phần ghi chú và danh mục tài liệu tham khảo). 

Continue Reading

The Routledge Dictionary of Anthropologists

 Gérald Gaillard (2004)

The Routledge Dictionary of Anthropologists cung cấp thông tin về Những nhà Nhân học từ khi ngành được hình thành đến nay (2000s). Có hơn 300 những nhà Nhân học có tầm quan trọng và ảnh hưởng nhất trên thế giới được đề bạt, từ những tiền bối như Darwin, đến những thành viên nổi tiếng như Evans Prichard và Margaret Mead, cho đến những người ít được biết đến như Arthur Maurice Hocart và Carlos Castaneda. Những thông tin trong sách sẽ đưa ra chi tiết về công việc, đời sống, những công trình và học thuyết của mỗi nhà nhân học.

14 chương của sách soạn thảo từ những truyền thống quốc gia, những trường phái tư tưởng và  ở khắp các vùng của Anh, Mỹ, Châu Âu, Mỹ La-tinh và châu Á. Mỗi phần bao gồm việc giới thiệu về tiểu sử của mỗi nhà nhân học và những nhà tư tưởng quan trọng tác động đến học thuyết của họ.

The Routledge Dictionary of Anthropologists còn:

  • Phác họa đặc điểm những trào lưu nhân học
  • Những mối quan hệ hỗ tương của những trường phái và danh tính
  • v.v…

a2

 

Continue Reading

Dr. John Kleinen

John Kleinen

Dr. J.G.G.M. (John) Kleinen

  • Faculteit der Maatschappij- en Gedragswetenschappen
    WP Groep: Docenten Antropologie
  • Nieuwe Achtergracht  166
    1018 WV  Amsterdam
    Kamernummer: 006-B
  • J.G.G.M.Kleinen@uva.nl

Short Bio

John Kleinen is an anthropologist and historian with a PhD from the University of Amsterdam (UvA). He is a associate professor emeritus at the UvA since April 2013. He is affiliated to the Amsterdam International School for Social Science Research (AISSR) and the Maritime Research Centre Amsterdam (MARE).

His current research interests include the history of Vietnam, the institutional dynamics of French colonial expansion, and theory and practice of visual anthropology.

He has received several research grants from The Netherlands Organisation for Scientific Research (NWO) and  the Science Organisation for Global Development (WOTRO), the Centre National de la Recherche Scientifique (CNRS), the Royal Academy of Sciences (KNAW) and the University of Amsterdam. Special research projects have been carried out for the Dutch Ministry of Foreign Affairs, Ministry of Justice, the Ministry of Welfare and Culture,  the Dutch Embassy in Hanoi and a number of NGO’s in the Netherlands and in Vietnam.

He is the (co-)author or (co-)editor of a dozen of  books, and published extensively in international journals such as Itinerario, Internationale Spectator, the IIAS Newsletter, the Singapore Journal of Tropical Geography, the Journal of Asian Earth Sciences and TranS, Trans-Regional and -National Studies of Southeast Asia, Cambridge.

Internationally, Kleinen served as a dean of the Social Science Research Council (SSRC) sponsored training course for social scientists at the Vietnamese Academy of Social Sciences (VASS)(2001-2003). Kleinen was also member of the Administrative Board of the Ecole Française d’Extrême Orient (EFEO) (2004- 2007) and of the Steering Committee of the European Consortium for Asian Field Study (ECAF), on behalf of the University of Amsterdam (2007 – 2012) . He is still member of the Scientific Council of French research institutions in Asia managed by the French Ministry of Foreign Affairs.

In 2011 John Kleinen joined the EU-ASIA Centre in Brussels as senior advisor. Since 2004, Kleinen is a member of the supervisory board of SpaarnestadPhoto/NationalArchives.

Since 1977, Kleinen taught visual anthropology for BA and MA students. He is still the curator of Camera Lucida for anthropologists. For the website see www.cameralucida.nl.

 

 

LINKS

New book

Around Hoan Kiem Lake and Beyond

The book is the first comprehensive collection of pictures from the Vietnamese photographer Quang Phung after nearly 60 years working as a freelance photographer in Hanoi. Anthropologist John Kleinen wrote the introduction as an essay on Quang Phung and his work. Together with journalist Dao Mai Trang he edited the book.


The book includes three parts. The first part, The God – given Quiet Space and Beauty , stresses on the fascinating beauty of Hoan Kiem Lake scene as well as the natural and close attachment of such so many Hanoian generations, from their childhood to the old age.
The second part, Social Stories , shows his private meditation on the social rotation during the long period. Hoan Kiem Lake is like a small society with all rise and fallof happiness,sadness, the good, the evil.
The third part, For Human Soul Self – improvement , is a complete introduction of the pure traditional process of making lotus tea in Phung Thanh pagoda off Kham Thien street.

About the publication

Around Hoan Kiem Lake and Beyond – photos by Quang Phung; introduction written by John Kleinen. The whole book project is sponsored by the Prince Claus Fund Library, the Netherlands, through East West Foundation (112 pages, 23cm x 28cm, color printed). Hanoi: Cultural – Information Publishing House.

Contribution to New Book

2011

Towards a Maritime History of Vietnam: Seventeenth-century Vietnamese-Dutch confrontations.
In Volkert Gabrowsky (ed.),  Southeast Asian Historiography: Unravelling The Myths. Essays in Honour of Barend Jan Terwiel, Bangkok: River Books, 2011 ( pp. 329).

BOOKS

2010

John Kleinen and Manon Osseweijer (eds.) Pirates, Ports, and Coasts in Asia: Historical and Contemporary Perspectives . Singapore: ISEAS.

2006. J.G.Mulder. Zijstraten van de geschiedenis.De wereld rond 1900 in stereofoto’s. Amsterdam: de Verbeelding.

  • 1999

Facing the Future, Reviving the Past. A study of Social Change in a Northern Vietnamese Village

    . Singapore: Institute of Southeast Asian Studies, 1999.
  • 2007 Doi Dien Tuong Lai Hoi Sinh Qua Khu. Nghien cuu bien doixa hoi o mot lang bac Viet Nam. Tap Chi Xua &Nay NXB DaNang (Vietnamese translation).

2007 2008

  • Leeuw en Draak. Vier Eeuwen Nederlands-Vietnamese betrekkingen. (eds. John Kleinen, Bert van der Zwan, Hans Moors en Ton van Zeeland). Boom Publishers: Amsterdam. 2007
  • Also in English and Vietnamese versions published by Boom Publishers, Amsterdam and The Gioi, Hanoi (2008).
  • Boekbespreking: Internationale Spectator, 62 (3), maart 2008.

Books

2004

Cambodja . Amsterdam: Royal Tropical Institute, (in Dutch), Revised reprint of the 1989 edition, ( with Tara Mar, MA).

Bespreking: De antropologen John Kleinen en Tara Mar “schetsen in dit boekje de geschiedenis van Cambodja van ± 1943 tot 2004. Ze besteden aandacht aan verschillende onderwerpen als het leven van alledag, religie, bevolkingsgroepen, taal en literatuur en natuur en milieu; hoofdmoot van het boek vormen de zeer onstuimige politieke en economische ontwikkelingen. Het boek is bedoeld voor iedereen die snel een indruk van Cambodja’s contemporaine geschiedeniswenst. Gezien het bestek van dit boek is de hoeveelheid informatie indrukwekkend. Met goede illustraties (in zwart-wit en in kleur) en kaarten, twee pagina’sreisinformatie, literatuuropgave en kerncijfers. Uitklapbare kaartop de achterflap. Geen register.(Biblion recensie, Redactie).”

Contribution to:

2004a  Vietnamese dorpen tussen traditie en moderniteit: een veelkleurig palet.    2004, pp. 247-260 . In:
Miriam Lambrecht & Christian Schicklgruber –  Vietnam. Kunst en culturen van de prehistorie tot op heden. Brussel, 2003. Groot formaat paperback. Met illustraties in kleur en z/w. 272 pag.

2004b  V
illages vietnamiens entre tradition et modernité: une palette multicolorée. I n  M.Lambrecht und Christian Schicklgruber , Vietnam. L’art et cultures de préhistoire jusqu’au présent. Brussels enAntwerpen:Snoeck, 2004, pp. 247-260 .

Contribution to:

2004c  Dörfer in Vietnam zwischen Tradition und Modernisierung .  In M.Lambrecht und Christian Schicklgruber, Faszination Vietnam. Götter, Helden, Ahnen . Leoben und Antwerp , Snoeck, 2004, pp. 251-265.

2001

Vietnamese Society in Transition. The daily politics of reform and change. Amsterdam : Spinhuis / IIAS (editorship and introduction).

 

 

1999

Liber Amicorum. Mélanges offerts au Professeur Phan Huy Le . Hanoi : NXB Thanh Nien, CASA, IIAS , EFEO (edited together with Philippe Papin) (in English and French).

1990               

Cambodja . Amsterdam : Royal Tropical Institute, (in Dutch).

Cambodja´s geografische positie op het vasteland van Zuidoost-Azië is een belangrijke sleutel tot het begrijpen van wat zich in de 20e eeuw onder de Rode Khmer heeft afgespeeld. Het besef dat het land sinds de 14e eeuw als een trekharmonica is bespeeld door zijn buren, en later door de westerse mogendheden, heeft vele van de huidige Cambodjaanse politici parten gespeeld.  Dit boek uit de Landenreeks beschrijft in ± 80 bladzijden de geschiedenis, politiek, samenleving, geografie, cultuur, natuur en milieu en, uiteraard, de mensen zelf. Sfeervolle verhalen over het dagelijks leven in de stad en op het platteland vullen zakelijke informatie aan. De auteur heeft er in de jaren tachtig lange tijd rondgereisd en een diepgaande studie van het Khmer Rouge regime  gemaakt.

1993

Vietnam. Amsterdam :Royal Tropical Institute,Amsterdam , (in Dutch).

Bespreking: ” In de landenreeks van het Tropeninstituut (Novib) schreef Kleinen, antropoloog aan de universiteit van Amsterdam, een informatieboekje, mede opbasis van eigen reis/verblijf. Na een inleiding en een hoofdstuk over de geschiedenis volgen hoofdstukken over Vietnam na 1975, de Vietnamese traditionele samenleving, de economie, feesten en rituelen, cultuur, minderheden. Veel aandacht voor cultuur ensamenleving, wat minder sterkineconomische gegevens, maar desondanks zeer informatief en afgewogen in beoordelingen en interpretaties. Als naslagwerkje, naast de Lonely Planet Vietnam Travel Survival Kit (1993), zeer nuttig, geschikt voor een breed publiek, bijv. scholieren (scripties!). Compact, niet journalistiek-gemakkelijk leesbaar, soms telegramstijl, maar toch helder en uiterst bruikbaar als documentatie. Foto’s, literatuurverwijzing, kaartjes, feiten en cijfers.(Biblion recensie, Dr. B.J.S. Hoetjes.)”

Peer reviewed contributions to books (see for the most recent ones, under ‘publicaties” above)

2007            Stealing from  the  Gods. Fisheries and Local use of natural resources in Vietnam 1800-2000. In Greg Bankoff and Peter Boomgaard (Eds.), The Wealth of Nature: How Natural Resources Have Shaped Asian History, 1600-2000. Palgrave/Macmillan: London , pp. 245-264.
2004          Framing the Other. Acritical review of Vietnam War movies and their Representation of Asians and Vietnamese. In Ravi Srilati (et al.), (Eds.) Europe in Asia, Asia in Europe, Singapore: ISEAS and IIAS, 2004, pp.  267-299.

Selection of Peer Reviewed Articles (see for the most recent ones, under ‘publicaties’ above)

  • 2007   Historical perspectives on typhoons and tropical storms in the natural and socio-economic system of  Nam Dinh (Vietnam). In Journal of Asian Earth Sciences 29,523-531.
  • 2005   Tropicality and Topicality: Pierre Gourou and the Genealogy of French Colonial Scholarship on Rural Vietnam. In Singapore Journal of Tropical Geography , 26(3), 339-358.
  • 2004   Framing the Other. A critical review of Vietnam War movies and their Representation of Asians and      Vietnamese.”  Leidschrift (19), 2, pp.137-169.
  • 2001  Le mimétisme del’État-parti. Le Viêt Nam depuis la réunification.In Raisons politiques , n° 3, août, pp. 37-54.
  • 1999 Boekbespreking Jan Pluvier, Zuidoost Azie, de Geus 1999 voor Onze Wereld (zie externe verwijzing onder DARE).
  • 1996    Vietnam War through Vietnamese Eyes. Vietnam Forum.
  • 1983    Cambodja: het gevecht om de staat. In Geweld en politiek in Zuidoost-Azië, themanummer van De Gids (146), nr.8/9, pp,605-27
  • 1982    Amsterdam in de wereld van 1632  (redactie Joop Goudsblom, John Kleinen en Abraham de Swaan),  De Gids. (145), .nr.1. Meulenhoff, Amsterdam.
  • 1979   Weer oorlog in Zuidoost-Azië: China-Vietnam Een analyse. Samen met Jean Philippe Béjà. InDe Gids. (142), 9/10, pp.628-51.

Boekbespreking Jan Pluvier, Zuidoost-Azie. De Geus, 1999.

 

Nguồn:

Continue Reading

Christina Schwenkel – USA

Schwenkel, Christina UCR Portaits

  • Associate Professor
  • Ph.D. 2004 University of California Irvine
  • Office: 1327 Watkins Hall
  • E-mail: cschwenk@ucr.edu
  • Professor Schwenkel’s research focuses on transnationalism, historical memory, aesthetics and visual culture in Vietnam. In her first project, she conducted multisited ethnographic fieldwork in Hanoi and Ho Chi Minh City on transnational practices of memory, representations of war and suffering, and the politics of postwar reconciliation at museums, war monuments, art and photography exhibits, and tourist sites. She has written on Vietnamese war photographers, competing notions of torture and human rights, and sites of trauma tourism. Her book, The American War in Contemporary Vietnam: Transnational Remembrance and Representation (Indiana University Press 2009), looks at encounters between conflicting U.S. and Vietnamese recollections and representations of the war, and attempts to define and maintain particular visions of historical truth, knowledge and objectivity.
  • Professor Schwenkel’s current work examines the legacies of socialist humanitarian practices and transnational mobilities between Vietnam and former East Germany, in particular, Vietnamese contract labor programs in German factories and East German architectural/urban planning projects in Vietnam. In 2010-2011, Professor Schwenkel conducted historical and ethnographic research in Vinh City, Vietnam on postwar socialist urbanization and postsocialist/neoliberal urban renewal. Funded by Fulbright-Hays, ACLS, and the UC Pacific Rim Research Program, Schwenkel traced shifts in the aesthetic, cultural and affective meanings and value of East German-built public housing, from its postwar construction as a model socialist community to its privatization and impending demolition under new forms of urban governance and new market economic initiatives.

SELECTED PUBLICATIONS

  1. Rethinking Asian Mobilities: Socialist Migration and Postsocialist Repatriation of Vietnamese Contract Workers in East Germany.” Critical Asian Studies, Vol. 46, no. 2 (2014): 235-258.
  2. Post/Socialist Affect: Ruination and Reconstruction of the Nation in Urban Vietnam.”Cultural Anthropology, Vol. 28, no. 2 (2013): 252-277.
  3. War Debris in Postwar Society: Managing Risk and Uncertainty in the Former DMZ.” InInteractions with a Violent Past: Reading Post-Conflict Landscapes in Cambodia, Laos, and Vietnam. Vatthana Pholsena and Oliver Tappe, eds. (Singapore: National University of Singapore Press, 2013). Pp. 135-156.
  4. The Ambivalence of Reconciliation in Contemporary Vietnamese Memoryscapes.” In Four Decades On: Vietnam, the United States, and the Legacies of the Second Indochina War. Scott Laderman and Edwin Martini, eds. (Durham, N.C.: Duke University Press, 2013). Pp. 103-131.
  5. Civilizing the City: Socialist Ruins and Urban Renewal in Central Vietnam.” positions: east asia cultures critique, Vol. 20, no. 2 (2012): 437-470.
  6. How is Neoliberalism Good to Think Vietnam? How Is Vietnam Good to Think Neoliberalism?” Guest Editors’ Introduction with Ann Marie Leshkowich. positions: east asia cultures critique 20(2): 379-401.
  7. Neoliberalism and Vietnam. Special issue of positions: east asia cultures critique, co-editor with Ann Marie Leshkowich, Vol. 20, no. 2 (2012).
  8. “Youth Culture and Fading Memories of War in Hanoi, Vietnam.” In Everyday Life in Southeast Asia. Kathleen M. Adams and Kathleen Gillogly, eds. (Bloomington: Indiana University Press, 2011). Pp. 127-136.
  9. “The Politics of Memory and Forgetting in Asia.” Suomen AntropologiJournal of the Finnish Anthropological Society , Vol. 4, no. 2 (2010): 77-83.
  10. The American War in Contemporary Vietnam: Transnational Remembrance and Representation (Bloomington: Indiana University Press, 2009).
  11. From John McCain to Abu Ghraib: Tortured Bodies and Historical Unaccountability of U.S. Empire in Vietnam.” American Anthropologist, Vol. 111, no. 1 (2009): 30-42.
  12. “‘The Camera Was My Weapon’: News Production and Representation of War in Vietnam.” InThe Anthropology of News and Journalism: Global Perspectives. S. Elizabeth Bird, ed. (Bloomington: Indiana University Press, 2009). Pp. 86-99.
  13. Exhibiting War, Reconciling Pasts: Journalistic Modes of Representation and Transnational Commemoration in Contemporary Vietnam.” Journal of Vietnamese Studies Vol. 3, no. 1 (2008): 36-77.
  14. Recombinant History: Transnational Practices of Memory and Knowledge Production in Contemporary Vietnam.” Cultural Anthropology
  15. Vol. 21, no. 1 (2006): 3-30.

 

Xem thêm: http://college.holycross.edu/faculty/aleshkow/publications.html

Continue Reading

[Documentary] Looking at anthropology

 

“Looking at anthropology”, a video project with anthropologists who talk about anthropology. While the discipline is questioning itself, practitioners add to the discussion by explaining who they are and what they do.

MARTIN HOYEM

I had the chance to meet Martin while I was doing fieldwork in LA. I am a great fan of his amazing web magazinewww.americanethnography.com. We met on a beautiful sunday afternoon at his place, Martin is an incredible and very interesting anthropologist, since he is also a visual artist.

http://vimeo.com/14420026

Christian Lallier teaches anthropology and film at the “Ecole des Hautes Etudes en Sciences Sociales” in Paris. His course is entitled “Prerequisites for a filmed anthropology” and it blew me off my feet. Lallier brings together theories of interactions (Goffman etc.) and his practice of documentary films to train anthropologists on how to do ethnography with a camera in hand!

http://vimeo.com/13908919

Dominique Desjeux is a Professor of Anthropology at Paris V la Sorbonne. He is the author of many books in sociology and anthropology – he developed the concept of “scale of observations” and “the itinerary method”. But above all, he is an incredibly active fieldworker, always in a different part of the world from Brazil to China, looking for details in the every day life of people.

http://vimeo.com/14158439

Eric is a true fieldworker. I had the chance to work with him and I learned a lot from this experience. His incredible ability to immerse himself enables him to be accepted in any given situation. Eric is also one of the few anthropologists who has been working inside companies. After his Phd in Australia, he spent almost 10 years in French industries doing ethnography from assembly lines to boards of directors.

Continue Reading
1 2 3 5