Xin đừng biến thầy cô thành trâu bò – Radio Nhân học kỳ 10

Cải cách giáo dục ở Việt Nam thường là những cải cách chính sách, nặng về xoay chuyển cơ cấu vĩ mô, tập trung chủ yếu vào cải cách nội dung sách giáo khoa, cũng như quy chế thi cử. Song không phải vì vậy mà chính sách giáo dục vĩ mô thực sự ổn. Có quá nhiều vấn đề đang ảnh hưởng đến chất lượng dạy và học ở Việt Nam.

Vấn đề nghiêm trọng nhất nhìn từ góc độ vĩ mô đó là tình trạng thiếu giáo viên trầm trọng. Điều này khiến những giáo viên phổ thông ở Việt Nam đang phải è cổ gánh một khối lượng công việc nhiều hơn rất nhiều lần thầy cô ở những quốc gia khác.

Và tình hình này có thể trở nên nghiêm trọng hơn nếu xảy ra đợt cải cách biên chế sắp tới. Nó sẽ làm ảnh hưởng đến công việc của một lượng lớn giáo viên đang yên tâm công tác trong biên chế.

Điều này có vẻ nghịch lý, nhưng thử search cụm từ “thiếu giáo viên” trên Google. Bạn sẽ hình dung được phần nào tình cảnh đang xảy ra với giáo dục phổ thông Việt Nam. Nhiều trường đang thiếu hụt giáo viên nghiêm trọng.

Và đó là điều có thực chứ không phải chiêu trò vòi biên chế kiếm tiền của những ông bà hiệu trưởng thất đức, nếu nhìn vào số liệu thống kê.

Có một chỉ số mà mọi nền giáo dục hết sức chú ý cân đối khi hoạch định chính sách vĩ mô: tỉ lệ giữa số lượng giáo viên và số lượng học sinh. Số lượng học sinh chia theo đầu giáo viên của Việt Nam hiện giờ đang ở mức độ không hợp lý.

Trung bình một giáo viên phổ thông ở Việt Nam phải đảm nhiệm quán xuyến việc học hành của 17,82 học sinh.

Trong khi đó, trung bình một giáo viên phổ thông ở Mỹ phải đảm nhiệm 12,2 học sinh.

Ở Đức, nơi toàn bộ giáo dục phổ thông do ngân sách nhà nước hỗ trợ, một giáo viên chỉ phải đảm nhiệm 13,5 học sinh.

Ở Nhật Bản, một giáo viên đảm nhiệm 14,71 học sinh.

Ở Hàn Quốc một giáo viên phải đảm nhiệm trung bình 14 học sinh.

Ngay cả ở Trung Quốc, người ta duy trì tỉ lệ 1 giáo viên đảm nhiệm việc học của 14,8 học sinh.

Như vậy nếu so với những quốc gia kể trên, thì một giáo viên phổ thông của Việt Nam hiện phải chịu sức ép chăm sóc, dạy dỗ, và hỗ trợ học hành cho một số lượng học sinh lớn hơn hẳn.

Tình trạng thừa giáo viên chỉ diễn ra cục bộ. Nhìn tổng thể vĩ mô, nền giáo dục phổ thông của Việt Nam đang thiếu giáo viên trầm trọng.

Hơn nữa, ở nhiều quốc gia, đơn cử như ở Trung Quốc, bên cạnh số giáo viên phổ thông trực tiếp đứng lớp là 15,2 triệu người, người ta còn duy trì thêm khoảng 3 triệu người ở các trường làm công tác quản lý hành chính hỗ trợ đào tạo theo tỉ lệ 5 giáo viên phổ thông có 1 nhân viên hành chính.

Nhiều địa phương ở Việt Nam, thầy cô giảng dạy ở phổ thông phải kiêm nhiệm quản lý và đồng thời làm hành chính cho cả trường. Chưa kể những đợt cải cách, những đợt học tập nghị quyết chủ trương, những hoạt động ngoài chuyên môn, những kỳ thi bắt buộc hoặc nửa cưỡng ép, những tiêu chuẩn áp đặt từ trên xuống thay đổi xoành xoạch hàng tháng hàng năm đang ngốn hết quỹ thời gian ít ỏi còn lại. Nền giáo dục quản lý quan liêu đang vắt kiệt quỹ thời gian và sức lực của những thầy cô giáo.

Điều này khiến nhiều thầy cô dạy ở cấp phổ thông phải làm việc quần quật như trâu bò chỉ để đáp ứng được yêu cầu của giảng dạy thông thường và quản lý giáo dục vĩ mô. Hơi sức đâu mà chăm lo và đổi mới chuyên môn. Bế tắc của cải cách giáo dục nằm ở chỗ nó đang biến thầy cô thành trâu bò theo nghĩa đen.

Làm người ai cũng chỉ có 24 giờ. Đảm nhiệm công việc chuyên môn đã quá tải, cộng với những công việc hành chính không tên, những hoạt động ngoài chuyên môn kì quặc, thầy cô giáo ở bậc học phổ thông chắc chắn không có thời gian để sống và nuôi dưỡng tâm huyết để dạy dỗ học trò.

Continue Reading

[Sách mới] Nhân học ở Việt Nam: Một số vấn đề lịch sử, nghiên cứu và đào tạo

“Đặt Nhân học ở Việt Nam trong bối cảnh lịch sử Việt Nam từ đầu thế kỷ 20 và trong mối quan hệ tương tác với các truyền thống Nhân học trên phạm vi toàn cầu, cuốn sách Nhân học ở Việt Nam là một tuyển tập nhiều bài viết tâm huyết của các nhà khoa học Việt Nam, Nhật Bản, Canada và Pháp.

11

Tuyển tập gồm ba phần:

Phần thứ nhất đưa các độc giả trở về với lịch sử hơn 100 năm truyền thống của ngành khoa học Nhân học để thấy được những đóng góp to lớn và rất riêng của các nhà nhân học như Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Đức Từ Chi và Viện Viễn đông bác cổ Pháp… đối với sự hình thành và phát triển của chuyên ngành Dân tộc học theo truyền thống Dân tộc học Pháp và truyền thống Dân tộc học Xô-viết, cũng như sự chuyển đổi từ Dân tộc học sang Nhân học ở Việt Nam trong những thập kỷ đổi mới và hội nhập quốc tế gần đây.

Phần thứ hai làm rõ thực trạng, vấn đề và triển vọng nghiên cứu của các chuyên ngành của ngành khoa học Nhân học như Nhân học về giới, Nhân học chữ viết, Nhân học sinh thái, Nhân học tộc người cũng như các hướng nghiên cứu về sinh kế, di sản văn hóa… tại Việt Nam.

Phần thứ ba phân tích thực trạng đào tạo và giảng dạy Nhân học, nhận diện những khó khăn và thách thức hiện tồn, thảo luận các giải pháp quảng bá ngành học, nâng cao chất lượng đào tạo Nhân học theo hướng đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội và tiến trình hội nhập quốc tế”.

Mục lục:

 

Phần I

Lương Văn Hy
Nhân học: Lịch sử, nghiên cứu về Việt Nam, và đào tạo

Phần I
Nguyễn Văn Huyên và Nguyễn Đức Từ Chi trong nhân học Việt Nam

Phạm Khiêm Ích
Góp phần nghiên cứu nhân học ở Việt Nam trong bối cảnh đổi mới và hội nhập quốc tế

Olivier Tessier
Những bước đi đầu tiên của dân tộc học ở Việt Nam: Vai trò thúc đẩy của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp trong nửa đầu thế kỷ 20

Ngô Đức Thịnh
Nguyễn Văn Huyên và nghiên cứu văn hóa Việt Nam

Đỗ Lai Thúy
Nhân học văn hóa – Nhìn lại Nguyễn Văn Huyên và từ Nguyễn Văn Huyên nhìn lại

Đinh Hồng Hải
Tri thức bác học của Nguyên Văn Huyên: Dẫn liệu từ Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam

Nguyễn Phương Ngọc
Nguyễn Văn Huyên với việc tổ chức nghiên cứu và đào tạo nhân học (1938-1945)

Nguyễn Mạnh Tiến
Trí thức Việt Nam đầu thế kỷ 20: Trường hợp Nguyễn Văn Huyên đối diện với sự kiện Hát đối đáp

Bùi Xuân Đính
Từ Chi và nghiên cứu về làng xã – Những điều ông dạy học trò

Nguyễn Duy Thiệu
Từ Chi với trường phái dân tộc học đề cao nghiên cứu thực địa

Lê Hồng Lý
Nhà dân tộc học Từ Chi và cách ông dạy học trò

Trần Hữu Sơn
Cá tính Từ Chi trong ứng xử với nghề dân tộc học

Phạm Văn Dương
Tiếp cận nhân học trong trưng bày “Từ Chi – Nhà Dân tộc học” tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Phần II
Một số vấn đề nghiên cứu

Kato Atsufumi
Những đặc điểm của nhân học về Việt Nam ở Nhật Bản

Nguyễn Thu Hương
Nhân học về giới ở Việt Nam từ khi Đổi mới

Phan Phương Anh
Nhân học chữ viết: Lịch sử, cách tiếp cận và triển vọng ở Việt Nam

Nguyễn Công Thảo
Nhân học sinh thái ở Việt Nam: Hai giai đoạn, một con đường

Lý Hành Sơn
Nhân học về người Dao ở Việt Nam và một số vấn đề đặt ra

Nguyễn Ngọc Thanh
Quy ước sử dụng và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên của người Dao ở Việt Nam

Sarah Turner và Jean Michaud
Sinh kế nơi biên cương: Sự thích ứng của người Hmông ở vùng biên giới Việt – Trung

Nguyễn Thị Thanh Bình
Một số vấn đề trong nghiên cứu hôn nhân xuyên biên giới ở Việt Nam

Đinh Thị Thanh Huyền
Sáng tạo lại truyền thống và vấn đề bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam: Trường hợp Quan họ Bắc Ninh

Phạm Văn Lợi
Một số vấn đề trong nghiên cứu về nhà ở của các tộc người ở Việt Nam

Phần III
Đào tạo và giảng dạy nhân học: Thực tiễn và gợi mở

Vương Xuân Tình
Một số đổi mới theo hướng ngành nhân học ở Viện Dân tộc học (2000 – 2015)

Nguyễn Văn Sửu
Vấn đề tộc người trong định hướng phát triển của Khoa Nhân học ở Đại học Quốc gia Hà Nội

Huỳnh Ngọc Thu
Một số vấn đề về đào tạo đại học ngành nhân học ở Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Trường Giang, Thạch Mai Hoàng, Lương Thị Minh Ngọc
Một số gợi ý giảng dạy học phần Nhân học đại cương

Nguyễn Văn Tiệp
Nhân học ứng dụng và việc giảng dạy, nghiên cứu nhân học ứng dụng ở Việt Nam

Ngô Thị Phương Lan
Hội nhập quốc tế và tính địa phương trong giảng dạy Nhân học kinh tế ở Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh

Nguồn: NXB Tri Thức (8/12/2016)

Continue Reading

[Ebook] Claude Lévi-Strauss: The Other Face of the Moon

Mặt khác của trăng là tập hợp những bài viết của Claude Lévi-Strauss về văn hóa, văn minh Nhật Bản. Công trình được xuất bản bằng tiếng Pháp  L’Autre Face de la lune vào năm 2011 và được chuyển ngữ sang tiếng Anh The Other Face of the Moon bởi  Jane Marie Todd năm 2013.

16241542-_uy400_ss401_
Lời mở đầu, Junzo Kawada (2011, 2013) đã giới thiệu Lévi-Strauss đã có năm chuyến đi đến Nhật Bản vào giai đoạn 1977 đến 1988. Trong phiên bản tiếng Nhật quyển Nhiệt đới buồn, Strauss đã đề cập: “Không có một một ảnh hưởng nào sớm hơn đóng góp vào việc đào tạo tri tuệ và đạo đức của tôi như nền văn minh Nhật Bản.”

Đối với Lévi-Strauss, Nhật Bản chiếm một vị trí độc đáo trong số các nền văn hóa thế giới. Được hun đúc trong quá khứ xa xưa bởi ảnh hưởng của Trung Quốc, gần đây Nhật Bản đã kết hợp nhiều phong thái từ châu Âu và Hoa Kỳ. Nhưng bản chất của những vay mượn này đã được đồng hóa rất cẩn thận mà văn hóa Nhật Bản không bao giờ mất đi đặc trưng của nó. Như thể nhìn từ phía ẩn của mặt trăng, Châu Á, Châu Âu và Châu Mỹ, tất cả đều có thể đượcc tìm thấy ở Nhật Bản, hình ảnh của các châu lục được chuyển hóa một cách sâu sắc.

C.L.Strauss cũng viết: “Để sống ở hiện tại, người ta không cần phải ganh ghét và đào thải quá khứ; và không có một thành tựu văn hóa nào đáng để mang danh nếu như nơi chốn của nó không mang lấy tình thương và lòng tôn kính cội nguồn”. (The Other face of the Moon, 2013, tr. xi)

capture

Qua hội thảo vào ngày 15/11/2016, tạị Trung tâm Văn hóa Pháp L’Espace Hà Nội, Việt Nam sẽ đón nhận phiên bản Việt Mặt khác của trăng: khảo luận về Nhật Bản trong tháng 12/2016. Sách được dịch giả Nguyễn Duy Bình chuyển ngữ.

Những nhà Nhân học trẻ cung cấp ấn bản Anh (2013) và Pháp (2011) của “Mặt Khác của Trăng”: link1 (E, 2013) và link2 (F, 2011).

Continue Reading

Cách đọc và phân tích một bài báo khoa học

Việc đọc và phân tích một bài báo khoa học sao cho hiệu quả không những là một khó khăn đối với sinh viên mà còn với cả những nhà nghiên cứu trẻ. Để có được những ý tưởng hay giả thuyết mới, người nghiên cứu có thể phải đọc rất nhiều bài báo từ tạp chí chuyên ngành. Bài viết này cung cấp cho độc giả một số hướng dẫn để có thể thực hiện công việc này một cách dễ dàng và ít tốn thời gian nhất.

Studentacademic-reading-i-001

Ảnh: Getty Images

Những điểm cần lưu ý trước khi đọc

Có rất nhiều lý do để đọc bài báo khoa học. Bạn có thể đọc để tăng kiến thức, đọc để bình duyệt khi bạn có nhiệm vụ đó hay để thu thập thông tin cho một dự án nghiên cứu nhất định. Mục đích của việc đọc sẽ có ảnh hưởng lớn đến cách thức đọc và phân tích bài báo. Vì vậy, trước khi đọc, bạn cần xác định rõ mục đích của việc đọc. Tiếp đến, bạn hãy lưu ý những điểm sau trong quá trình đọc:

  • Luôn đặt ra những câu hỏi, những dự đoán trong đầu và so sánh phần trình bày của tác giả với những câu hỏi và dự đoán đó.
  • Ghi lại bất cứ những thắc mắc, nhận xét, nghi vấn nào của bạn về bài báo.
  • Gạch dưới, tô đậm, đánh dấu những dữ kiện quan trọng hay có vấn đề của bài báo.
  • Theo GS. Trương Nguyện Thành, ta cần so sánh bài báo đang đọc với những bài mà bạn đã đọc để nhận ra những đóng góp mới cũng như cách thực hiện nghiên cứu của tác giả. Đặt bài báo đó trong mối tương quan với những bài báo khác, có nghĩa là bạn không chỉ nhìn vào một cái cây mà nhìn cả rừng cây, để tìm ra một khung phân tích hay những giả thuyết nghiên cứu cho riêng bạn.

CR_LH_16825_image2

 Hình 1: Hình 1: Sơ đồ phát triển ý tưởng trong việc đọc bài báo khoa học

Nguồn: Bài giảng của GS. Trương Nguyện Thành ở Workshop về Công bố bài báo trên tạp chí quốc tế diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 6

  • Nên viết một tóm tắt ngắn bằng ngôn ngữ của bạn sau khi đọc xong bài báo. Phần tóm tắt gồm có câu hỏi nghiên cứu và câu trả lời mà bài báo này cố gắng cung cấp, những lập luận được đưa ra, những dữ kiện được phân tích và những kết luận được rút ra để sau này quay lại bạn dễ dàng nhớ lại nội dung bài báo.

Cấu trúc của một bài báo khoa học

Một bài báo khoa học thường có cấu trúc IMRD (Introduction [Giới thiệu], Methodology [Phương pháp], Results [Kết quả] và Discussion [Thảo luận]). Trong các ngành khoa học xã hội thì cấu trúc này chỉ phổ biến ở các nghiên cứu định lượng còn các bài viết dựa trên nghiên cứu định tính đi theo một cấu trúc khác như sau:

  • Introduction [Giới thiệu]
  • Contexts [Bối cảnh: tổng quan nghiên cứu, các quan điểm lý thuyết, những tranh luận học thuật, chính sách hiện thời)
  • Research Design and Methods [Thiết kế nghiên cứu và các phương pháp nghiên cứu]
  • Findings [Những phát hiện mới]
  • Discussion [Thảo luận: xem xét lại các vấn đề đặt ra trước đó thông qua các dữ liệu đã thu thập]
  • Conclusions [Kết luận]

Ngoài ra, một bài báo còn có nhan đề, tóm tắt, tác giả, tài liệu tham khảo, lời cảm ơn, các bảng biểu và lời chú thích. Thông thường, khi bạn biết cách viết một bài báo khoa học thì bạn sẽ biết cách đọc một bài báo khoa học và ngược lại.

Đọc nhan đề và tóm tắt để phân loại các bài báo

Khi lựa chọn một bài báo để đọc, tất nhiên bạn sẽ phải đọc nhan đề và tóm tắt của bài báo. Khi tra cứu tài liệu trên thư viện hay trên internet, thông tin đầu tiên mà bạn nhận được là nhan đề, sau nữa là phần tóm tắt. Nhan đề của một bài báo thường chứa đựng những thông tin ban đầu chủ chốt như câu hỏi nghiên cứu, đối tượng được nghiên cứu, cách thức nghiên cứu, các biến sẽ được kiểm chứng, giai đoạn được nghiên cứu, và có thể là kết quả quan trọng nhất được rút ra từ nghiên cứu. Ví dụ: Numberical and Experimental Study of General Gas Diffusion Equation within Fractal Pores (Combustion Science and Technology, Vol.188, Issue. 7, 2016) hay Woman’s Autonomy and Work Status in Nepal: A Study of Their Effects on Anaemia (Social Change, Vol. 46, Issue. 2, 2016).

Phần tóm tắt chứa đựng những thông tin về mục đích nghiên cứu, lý thuyết và phương pháp được áp dụng, các biến được sử dụng, nơi khảo sát, các kết quả và kết luận. Trong quá trình tìm kiếm tài liệu, bạn sẽ đọc được rất nhiều nhan đề và tóm tắt khác nhau. Bạn sẽ có một cái nhìn tổng quan về vấn đề, về các phương pháp đã sử dụng, các kết quả sơ bộ (Hình 2: Minh họa phần Tóm Tắt trên tạp chí khoa học). Trong thời đại ngày nay, với lượng xuất bản phẩm ngày càng lớn, việc đọc nhan đề và tóm tắt là cách tốt nhất để tiết kiệm thời gian đọc, đồng thời cho phép bạn phân loại bài báo ở các mức độ đọc khác nhau: rất quan trọng cần đọc trước, quan trọng, quan trọng nhưng chưa cần đọc ngay, không quan trọng nhưng thú vị cần lưu lại để đọc sau này..v.v.

CR_LH_16825_image3

Hình 2: Minh họa phần Tóm Tắt trên tạp chí khoa học

Nguồn: http://sch.sagepub.com/content/current

Đọc lướt để làm quen với bài báo

  • Nhìn qua cấu trúc, các đề mục và tiểu mục của bài báo để biết khung phân tích của tác giả.
  • Nhìn qua ngày xuất bản vì một số ngành thì các nghiên cứu gần đây (cách hiện tại không quá 5-7 năm) mới thích hợp, trừ những nghiên cứu cơ bản.
  • Nhìn qua tác giả và nhóm tác giả để xác định lĩnh vực chuyên môn, uy tín của họ trong lĩnh vực tương ứng và mối quan tâm nghiên cứu của họ xem có phù hợp với quan tâm của bạn không.
  • Nhìn qua các bảng biểu, sơ đồ cùng với các lời chú thích của bài báo.
  • Ghi lại bất cứ câu hỏi hay nhận xét ban đầu nào nảy ra trong đầu của bạn về bài báo.

Đọc kỹ và phân tích bài báo

Một bài báo khoa học không giống như một truyện ngắn cho nên bạn không cần phải đọc nó từ đầu cho đến cuối để hiểu toàn bộ câu chuyện. Bạn có thể chọn cho mình một thứ tự đọc riêng. Nhưng nếu bạn chưa có một nền tảng hay một ý tưởng nào về chủ đề được nghiên cứu, bạn nên đọc theo thứ tự từ phần giới thiệu cho đến phần kết luận đối với một vài bài báo đầu. Sau khi đọc được nhiều bài, bạn có thể đã có một khung làm việc chung cho vấn đề mà bạn quan tâm. Các bài báo tiếp theo, bạn không cần đọc tuần tự theo cấu trúc của nó mà đọc theo một ý tưởng mà bạn muốn đeo đuổi. Lúc đó, bạn có thể đọc theo thứ tự sau: tóm tắt -> kết luận -> phương pháp -> kết quả -> thảo luận hay theo thứ tự khác. Điều đó tùy thuộc vào bạn. Trong một bài báo, mỗi một phần giữ một chức năng riêng, chúng được kết hợp chặt chẽ giữa các thông tin để làm nổi bật những đóng góp mới của tác giả.

Phần giới thiệu thường nêu lên lý do nghiên cứu. Phần giới thiệu thường có 4 nội dung: phát biểu về vấn đề nghiên cứu, tổng quan về vấn đề nghiên cứu, mục đích nghiên cứu và kết quả mong đợi (hay giả thuyết nghiên cứu). Khi đọc phần này, bạn nên làm rõ những câu hỏi sau:

  • Tại sao tác giả thực hiện cuộc nghiên cứu này? Tác giả muốn giải quyết vấn đề gì? Câu hỏi nghiên cứu là gì?
  • Lỗ trống nào trong kiến thức mà tác giả muốn lắp đầy khi trình bày phần tổng quan nghiên cứu vấn đề (giữa cái đã biết và cái muốn biết hay khi chỉ ra những thiếu sót của những công trình trước đó)?
  • Tác giả mong đợi kết quả gì? Những biến nào được đưa vào để kiểm chứng?

Phần phương pháp sẽ nêu lên những kỹ thuật và phương pháp đã được tác giả sử dụng để đạt được kết quả như mong muốn. Bạn hãy tự trả lời các câu hỏi sau:

  • Những kỹ thuật và phương pháp nào đã được tác giả sử dụng?
  • So sánh phương pháp mà tác giả sử dụng với các phương pháp của các tác giả khác về cùng một chủ đề nghiên cứu để nhận ra những sự khác biệt trong phương pháp và kết quả.

Phần kết quả cung cấp các chứng cớ để ủng hộ hay bác bỏ giả thuyết nghiên cứu. Bạn phải xem kết quả nghiên cứu có được trình bày và phân tích một cách lô gích hay chưa. Bạn nên kiểm tra các biểu đồ và bảng biểu một cách cẩn thận, đưa ra kết luận của riêng mình và cố gắng lý giải nó trước khi đọc phần diễn giải của tác giả. Ghi lại bất cứ câu hỏi, thắc mắc hay nhận xét nào về kết quả nghiên cứu.

Phần thảo luận sẽ cung cấp những giải thích về kết quả nghiên cứu. Bạn đọc kỹ những giải thích và tự hỏi xem bạn có đồng ý với những giải thích đó không. Có câu hỏi nào nảy sinh trong bạn khi đọc những lý luận đó không. Bạn có thể đặt ra một số câu hỏi như:

  • Tác giả đã có những lý giải hợp lý cho kết quả nghiên cứu hay chưa?
  • Có những cách lý giải khác cho kết quả nghiên cứu mà tác giả chưa đề cập đến không?
  • Tác giả có thành kiến khi đưa ra các lý giải không?

Phần kết luận sẽ tóm tắt lại những phát hiện/kết quả nghiên cứu chính, chỉ ra tầm quan trọng của nghiên cứu và gợi ý con đường nghiên cứu tương lai dựa trên kết quả của nghiên cứu này.

Sau khi đọc xong và bắt đầu viết tóm tắt nội dung bài báo, bạn hãy dành thời gian để suy nghĩ và tự trả lời các câu hỏi sau:

  • Tác giả đã giải quyết hợp lý vấn đề nghiên cứu chưa, có hạn chế nào trong những giải pháp mà tác giả đã đề ra (kể cả khi tác giả đã thừa nhận) hay không?
  • Giả thuyết đặt ra có hợp lý chưa. Lô gích của bài báo có rõ ràng, có thể đánh giá được không?
  • Các lập luận có được hỗ trợ bằng những dữ liệu vững chắc chưa, dữ liệu có được thu thập đúng cách chưa, liệu có thể có những dữ liệu khác thuyết phục hơn không?
  • Ý tưởng của bài báo này đã tốt chưa, bạn có thể đưa ra những ý tưởng khác tốt hơn mà tác giả không nghĩ ra hay không?
  • Các ý tưởng này có thể được phát triển thêm hay khái quát hơn được nữa chăng. Nếu bạn là người thực hiện bạn sẽ làm gì với nó.

Một số kinh nghiệm cho việc đọc hiệu quả

Khi còn ở giai đoạn tích lũy kiến thức, bạn nên đọc và ghi chép cẩn thận với những bước cơ bản như trên. Nhưng khi đã thuần thục trong chuyên môn, bạn sẽ cảm thấy rất dễ dàng trong việc đọc và phân tích bài báo. Bạn sẽ dễ dàng nhận ra đâu là đóng góp mới, đâu là những hạn chế trong nghiên cứu của tác giả.

Biểu đồ doanh số bán lẻ của tạp chí The Times và Daily Paragraph (Hình 3) dưới đây là một ví dụ về việc đọc tích cực.

CR_LH_16825_image4

Hình 3: Biểu đồ doanh số bán lẻ của tạp chí The Times và Daily Paragraph

Nguồn: Đại học Kentucky.

Nếu nhìn vào biểu đồ cột bên phải, bạn sẽ nghĩ rằng doanh thu của “The Times” gấp đôi “Daily Telegraph”. Nhưng khi đọc kỹ vào phần tỉ lệ bạn sẽ thấy rằng “The Times” chỉ đạt doanh thu lớn hơn “Daily Telegraph” khoảng 10% mà thôi. Vì vậy khi đọc, bạn nên:

  • Đọc từ thông tin khái quát đến thông tin cụ thể
  • Kiểm tra các bảng biểu và biểu đồ một cách cẩn thận
  • Luôn đặt ra những câu hỏi khi đọc và đối chiếu thông tin với các bài báo khác về cùng chủ đề. Điều đó giúp bạn hiểu và nhớ thông tin tốt hơn.
  • Viết lại tóm tắt nghiên cứu giúp bạn khắc sâu thông tin và làm cho việc học tập và nghiên cứu của bạn có hệ thống hơn

Nói tóm lại, để đọc bài báo khoa học một cách hiệu quả và nhanh chóng, người đọc trước hết phải xác định mục đích đọc. Sau đó, người đọc cần phải đọc nhan đề (bao gồm đối tượng, cách thức, giai đoạn nghiên cứu) và tóm tắt bài báo (bao gồm mục đích, lý thuyết,phương pháp được áp dụng, các biến được sử dụng, nơi khảo sát, các kết quả và kết luận). Sau đó, người đọc cần đọc lướt để làm quen với bài báo để xem khung phân tích của tác giả, tính phù hợp của bài báo đối với mình. Cuối cùng, người đọc cần đọc kỹ và phân tích bài báo. Người đọc còn luôn phải đặt ra những câu hỏi, dự đoán và so chúng với phần trình bày của tác giả, sau đó đánh dấu những dữ kiện quan trọng của bài báo và đặt bài báo trong mối tương quan với những bài báo khác đã đọc để nhận ra những đóng góp mới của tác giả. Người đọc cũng nên tóm tắt bài báo bằng tiếng mẹ đẻ sau khi đọc xong, gồm có các câu hỏi nghiên cứu và những câu trả lời, những lập luận được đưa ra, những dữ kiện được phân tích và những kết luận được rút ra. Làm được điều này, việc đọc bài báo khoa học sẽ trở nên dễ dàng, chính xác và đem lại nhiều thông tin hơn bao giờ hết.

Tài liệu tham khảo:

  1. Truong, T. (2016). Bài giảng phục vụ Workshop về công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí quốc tế.
  2. Lunsford, T. and Lunsford, B. (2016). How to Critically Read aJournal Research Article. Journal of Prosthetics and Orthotics, 1996 | American Academy of Orthotists & Prosthetists. [online] Oandp.org. Tại địa chỉ: http://www.oandp.org/jpo/library/1996_01_024.asp [Truy cập ngày 08 tháng 7 năm 2016]
  3. Raff, J. (2014). How to Read and Understand a Scientific Paper: A guide for Non-Scientists. [online] Tại địa chỉ https://violentmetaphors.com/2013/08/25/how-to-read-and-understand-a-scientific-paper-2/[Truy cập ngày 08 tháng 7 năm 2016]
  4. Pain, E. (2016). How to (seriously) read a scientific paper. [online] Tại địa chỉhttp://www.sciencemag.org/careers/2016/03/how-seriously-read-scientific-paper [Truy cập ngày 08 tháng 7 năm 2016]
  5. Mitzenmacher, M. (2016). How to read a research paper. [online] Tại địa chỉ: http://www.eecs.harvard.edu/~michaelm/postscripts/ReadPaper.pdf [Truy cập ngày 08 tháng 7 năm 2016]
  6. Conservation Biology Environmental Studies 319. (2016). Criticaly Reading Journal Articles. [online] Tại địa chỉ: http://ento.psu.edu/graduateprograms/handbook/degree-information/degree-requirements/phd/CriticallyReadingJournalArticles1.pdf. [Truy cập ngày 08 tháng 7 năm 2016]

 ThS. Vũ Thị Thu Thanh, Hoàng Bảo Lân

Nguồn: Vietnam Jounal of Science, 30/8/2016

Continue Reading

Forests, Spirits and High Modernist Development: A Study of Cosmology and Change among the Katuic Peoples in the Uplands of Laos and Vietnam

dynamiccontent.propertiesÅrhem, Nikolas

Uppsala University, Disciplinary Domain of Humanities and Social Sciences, Faculty of Arts, Department of Cultural Anthropology and Ethnology.
 2015 (English)Doctoral thesis, monograph (Other academic)
Abstract [en]

This thesis explores how Katuic-speaking indigenous groups in the Central Annamitic Cordillera of Vietnam and Laos understand their environment – hills, streams and forest. Katuic eco-cosmology assumes that the natural landscape is imbued with spirit agents, with whom people must continuously communicate lest misfortune will strike and their livelihoods fail. The thesis posits the hypothesis that these spirit beliefs, and a variety of taboo notions accompanying them, can be interpreted as expressions of a complex socio-environmental adaptation. Today, the indigenous groups in the study region are confronted with a massive development- and modernisation push on two fronts – that of the global development industry on the one hand, and the implementation of national development policies and programs as part of the high-modernist state project in communist Vietnam and Laos, on the other.

A second objective of the thesis, then, is to examine the effects of this multi-layered and multi-scaled confrontation on indigenous cosmology, livelihood and landscape. It is argued, this confrontation at the development frontier can be conceived of as an interface between different ontologies or reality posits – one animist, articulated in a relational stance towards the landscape; the other, a naturalist or rationalist ontology, expressed as an objectivist stance towards nature and embodied in the high-modernist development schemes and programs unfolding in the region with the aim of re-engineering its indigenous societies and exploiting its natural resources.

Large parts of the Central Annamites were severely impacted by the Vietnam War; uncounted numbers of minority people were killed, or had their villages destroyed or relocated while defoliants, bombs, and forest fires ravaged the landscape. In the decades that followed the war, the entire social and natural landscape has been reshaped by national development policies and the modernist visions that underpin them. The thesis attempts to understand this physical and cultural transformation of the landscape, focusing particularly on the gradual breakdown of the complex indigenous socio-religious institutions that appear to have played an important functional role in maintaining the pre-war structure of the landscape.

The thesis is based primarily on fieldwork carried out between 2004 and 2009 in the provinces of Quảng Nam and Thừa Thiên–Huế in Vietnam and Sekong in Laos.

See the full link here: http://www.diva-portal.org/smash/get/diva2:765756/FULLTEXT01.pdf

 

 

Continue Reading

Shifting cultivation, livelihood and food security: New and old challenges for indigenous peoples in Asia

0720_Sider_fra_Fao

The United Nations Declaration on the Rights of Indigenous Peoples was adopted by the UN General Assembly on 13 September 2007. Since then, the importance of the role that indigenous peoples play in economic, social and environmental conservation through traditional sustainable agricultural practices has been gradually recognized. Consistent with the mandate to eradicate hunger, poverty and malnutrition – and based on the due respect for universal human rights – in August 2010 the Food and Agriculture Organization of the United Nations adopted a policy on indigenous and tribal peoples in order to ensure the relevance of its efforts to respect, include, and promote indigenous people’s related issues in its general work.

Continue Reading

Customary Law in Forest Resources Use and Management A Case Study among the Dzao and Thai People in North-West Vietnam

0571_Cover_Customary_laforest_management_Vietnam

Vietnam is home to 53 ethnic minority groups who mostly live in the forested uplands. Numbering over twelve million people, they highly depend on forests for their livelihood and development. But the pressures on these forests are ever increasing, posing a serious threat to the lives and stability of millions of people.

Since the early 1990s, Vietnam has attempted to address deforestation by decentralizing forest management. Under the forest land allocation programme long-term use rights over forest land are provided to individual households and communities. However, while the programme has been successful in improving forest conservation, the benefits of the programme have been unevenly distributed. Especially in mountainous areas, where the majority of ethnic minorities live, its implementation has been slow and many communities remain without secure tenure rights.

One of the key challenges for the forest land allocation programme is how customary land rights and institutions can be formally recognized under statutory law. Vietnam’s forest law recognizes local forest users as rights holders and customary practices and culture as the basis for assigning forests to these people. There is however a considerable discrepancy between the law on paper and its implementation on the ground.

Continue Reading

Marginalization in China: Recasting Minority Politics

a90269040709842920c29cb4db308320-d

 

State management of diversity is a modern enterprise. China’s need to temper the push for national unity with policies of variety and difference is no exception.  Marginalization in China: Recasting Minority Politics, a collection of historical and contemporary accounts of gender, ethnic, class and religious minority formation, debunks popular misconceptions about China’s highly centralized state and seemingly homogeneous society. Drawing on archival research, interviews and field work it documents how state and citizens meet in a politics of minority recognition, and so inform the growing awareness of rights in China. Rich and timely, this volume reminds everyone that China has the power not only to attract attention to itself but invite reflection back on every polity’s approach to diversity.

Table of contents :


Cover……Page 1
Contents……Page 6
List of Illustrations……Page 8
Acknowledgments……Page 10
Notes on Contributors……Page 12
One: Introduction: Recasting Minority Politics in China……Page 14
Two: Reaching out for the Ladder of Success: “Outsiders” and the Civil Examination in Late Imperial China……Page 34
Three: Banditry, Marginality, and Survival among the Laboring Poor in Late Imperial South China……Page 48
Four: Politics of Faith: Christian Activism and the Maoist State in South China……Page 62
Five: The Transnational Redress Campaign for Chinese Survivors of Wartime Sexual Violence in Shanxi Province……Page 80
Six: The Chinese Underclass and Organized Crime as a Stepladder of Social Ascent……Page 108
Seven: Feminization, Recognition, and the Cosmological in Xishuangbanna……Page 136
Eight: Re-Presenting Women’s Identities: Recognition and Representation of Rural Chinese Women……Page 158
Nine: “This Is My Mother’s Land!”: An Indigenous Woman Speaks Out……Page 178
Ten: Making Rights Claims Visible: Intersectionality, NGO Activism, and Cultural Politics in Hong Kong……Page 200
Eleven: Institutionalizing the Representation of Religious Minorities in Post-1997 Hong Kong……Page 224
Twelve: The Limits of Chinese Transnationalism: The Cultural Identity of Malaysian-Chinese Students in Guangzhou……Page 250
H……Page 266
T……Page 267
Z……Page 268
C……Page 270
D……Page 271
G……Page 272
L……Page 273
O……Page 274
S……Page 275
Z……Page 276

Continue Reading
1 2 3 25