[Article] The transformation of Rural Society under the Economic Policies after 1992 in Duc Trong district, Lam Dong province, Vietnam

Honda Mamoru

Phạm Thanh Thôi

Nguồn: Honda Mamoru, Phạm Thanh Thôi, “The transformation of rural society under the economic policies after 1992 in Duc Trong district, Lam Dong province, Vietnam,” (Biến đổi xã hội nông thôn bởi tác động của những chính sách kinh tế sau 1992 ở huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam),  Annual Journal of the Asia cultures Research Institute No. 50. 2015 (29.2.2016), P.161-182.

 

Giới thiệu

Việt Nam đã gia tăng sự phát triển cho đến ngày nay kể từ khi làm quen với cơ cấu thị trường có được từ chính sách Đổi mới vào năm 1986. Về quan hệ quốc tế, Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào tháng 1/2007 và sẽ kiến lập nên những tiêu chuẩn chung với hệ thống thương mại thế giới, tiếp tục làm gia tăng sự thay đổi đến đỉnh điểm. Từ năm 1990, các tác giả đã nghiên cứu những người dân canh tác nương rẫy, họ thuộc nhóm người Koho-Cil và Mạ. Nghiên cứu này bàn về sự biến đổi xã hội của họ bởi những tác động ngoại sinh từ thời kỳ thực dân Pháp đến hiện nay qua thời kỳ Đổi mới. Những năm gần đây, các tác giả đã có những nghiên cứu so sánh sự biến đổi trong cấu trúc xã hội của nhóm người Koho-Cil canh tác nương rẫy và nhóm người Koho-Sre trồng lúa.  Qua điền dã, các tác giả nhận thấy sự biến đổi xã hội như là kết quả của những chính sách đến từ sự cải thiện về hệ thống điện, đường, tăng cường thu nhập về tiền mặt ở xã hội nông thôn. Trong một số trường hợp lại là sự tự đánh giá cao về mặt quản lý (hành chính) và nó nhận được sự phê phán của nhiểu nhà nghiên cứu.

Trong báo cáo này, các tác giả sẽ giới thiệu về những phản biện và đánh giá các chính sách để làm rõ sự biến đổi xã hội, đặc biệt là việc sử dụng đất đai  và đưa ra những khuyến nghị về sự thay đổi tâm thức tộc người.

Nội dung chính của bài báo cáo bao gồm phần tổng quan về địa bàn nghiên cứu;  những biến đổi xã hội được nhận thấy qua những dữ liệu phỏng vấn các cá nhân ở các nhóm Phinom, Kanreo, Cirong và những biến đổi trong quản lý đất đai dưới tác động của cơ cấu thị trường trong cộng đồng người Koho.

No automatic alt text available.

Các tác giả

TS. HONDA Mamoru là nghiên cứu viên tại Viện nghiên cứu văn hóa châu Á thuộc Trường Đại học Toyo, Nhật Bản. Ông có hơn 10 năm quan tâm nghiên cứu về các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mon Khmer ở Lâm Đồng, Việt Nam. Kết quả nghiên cứu gần đây được thể hiện rõ trong luận án tiến sĩ “Biến đổi nghi lễ và xã hội của người Cil thuộc dân tộc Cơho ở Việt Nam”, được bảo vệ tại Khoa Xã hội học Trường Đại học Toyo, Nhật Bản và nhiều bài báo khoa học khác.

ThS. Phạm Thanh Thôi là giảng viên Khoa Nhân học, Phó giám đốc Trung tâm nghiên cứu Việt Nam  & Đông Nam Á. Ông đã có hơn 10 năm nghiên cứu điền dã tại cộng đồng các dân tộc thuộc nhóm ngôn ngữ Mon –Khmer ở Tây Nguyên Việt Nam. Là tác giả của một số bài viết đáng chú ý như “Biến đổi xã hội của người Cil ở Lâm Đồng”; “Ranh giới xã hội giữa người Cil và Kơho (Srê) ở Đức Trọng, Lâm Đồng”.

Thành viên quan tâm có thể tại toàn văn tài liệu tại đây hoặc đường dẫn phụ.

 

Continue Reading

[Giới thiệu sách] The New Way: Protestantism and the Hmong in Vietnam

Tam T.T. Ngo (2016) The New Way: Protestantism and the Hmong in Vietnam, Seatle and London: University of Washingtong  Press.

1

Vào giữa những năm 1980, một chương trình phát thanh với một thông điệp tâm linh hấp dẫn được tiếp nhận bởi những thính giả ở vùng cao miền Bắc Việt Nam. Sự truyền đạt Tin Lành Phúc Âm được thực hiện bằng tiếng Hmong bởi Công ty Phát thanh Viễn Đông đặc biệt dành cho những người di cư sang Lào từ thời chiến tranh. Người Hmong ở Việt Nam đã kể về truyền thống của họ với đức tin trông đợi sự cứu rỗi từ vị vua cứu thế người Hmong, người này sẽ dẫn dắt họ thoát khỏi ách cai trị, và họ đã thích nghi với thông điệp phúc âm.

Ngày nay, New Way (Kei Cai Tshiab) có khoảng 300,000 tín đồ ở Việt Nam. Tác giả đã cho thấy sự phức hợp về chính trị trong tôn giáo và những mối quan hệ dân tộc trong bối cảnh Việt Nam đương đại và làm sáng tỏ sự tương tác tăng động giữa quyền lực toàn cầu và địa phương, xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa và hậu xã hội chủ nghĩa, những mặt đối lập của chiến tranh lạnh và hậu chiến tranh lạnh, chủ nghĩa xuyên quốc gia ở người Hmong và sự bành trướng về Phúc Âm được dẫn dắt bởi Hoa Kỳ. (Lời nhà xuất bản)

Công trình nhấn mạnh vào sự biến đổi trong cộng đồng người Hmong. Tác giả không lấy những ý niệm tôn giáo trong quá trình tái cấu trúc những đặc điểm thế giới quan của người Hmong làm những điểm chính để trình bày. Công trình hướng đến việc đặt tôn giáo bên cạnh hệ thống truyền thông liên quan đến sự khuếch đại (elaboration) của cộng đồng người Hmong liên vùng. Những phân tích trong công trình gắn với  cuộc thảo luận về sự xuất hiện đồng thời những khái niệm khác nhau (về thời gian và lịch sử) mà nhờ đó cho phép chúng ta hiểu về “sự tương đồng” (coevalness) ở cộng đồng người Hmong (kể cả ở Việt Nam và Hoa Kỳ), người Kinh và những lãnh đạo ở Việt Nam, những nhà truyền giáo Thiên Chúa. Sự chối bỏ “sự tương đồng” ở người Hmong là biểu hiện rõ nhất sự phản đối mạnh lại “tình trạng lạc hậu” mà người Hmong buộc bị nhìn nhận bởi những người lãnh đạo chính quyền. Đó là tiến hóa luận trong lý thuyết Marxist đã đặt người Hmong vào trong giai đoạn lạc hậu trước đó trong tiến hóa lịch sử. (Mở đầu , tr.6)

0

Mục lục sách The New Way

Giáo sư Hồ Tài Huệ Tâm (Đại học Havard) nhận xét: “Cuộc đối thoại về Tin Lành Phúc Âm với những thành viên cộng đồng người Hmong tại Việt Nam làm nổi lên trọng tâm những vấn đề: cuộc đối thoại đã đụng chạm đến việc cải đạo và không cải đạo; mối quan hệ giữa mạt thế luận của Tin Lành với niềm tin cứu thế ở người Hmong; sự chuyển đổi của một cộng đồng bên lề trở thành trọng tâm với sự lan tỏa về hình ảnh Hmong thông qua làn sóng phát thành và những cuộc truyền giáo dựa thế Hoa Kỳ. Đây là một nghiên cứu dồi giàu tính chất dân tộc học và điêu luyện về lý thuyết, đóng góp quan trọng mở rộng giới hạn nghiên cứu cho nhiều chủ đề.”

tam-t-t-ngo

Ngô Thị Thanh Tâm là nghiên cứu viên Khoa Đa dạng Tôn giáo tại Viện Max Planck, Nghiên cứu về sự đa dạng dân tộc và tôn giáo ở Gottingen, Đức. Bà quan tâm đến những lĩnh vực nhân học về các vấn đề đối thoại tôn giáo, thế kỉ luận (millenarianism), chiến tranh và ký ức xã hội, mạng lưới tôn giáo xuyên quốc gia, di dân và hiện tượng phân tán văn hóa, tôn giáo và truyền thông đại chúng hiện đại.

Những nhà Nhân học Trẻ trân trọng giới thiệu!

Continue Reading

TỔNG QUAN VỀ DỰ ÁN THƯ VIỆN NHÂN HỌC

Dự án Thư viện Nhân học là một dự án hoàn toàn phi lợi nhuận. Nguồn tài chính của Thư viện Nhân học đến từ: 1) nguồn tiền đóng góp của các thành viên, 2) tiền tài trợ của các cá nhân – tổ chức, 3) tiền thu được từ việc tham gia các dự án nghiên cứu. Toàn bộ số tiền thu được sẽ được tái đầu tư HOÀN TOÀN cho phát triển Thư viện.

Thư viện của chúng tôi chủ trương: tập hợp toàn bộ những tư liệu nghiên cứu hoặc phục vụ nghiên cứu về Việt Nam ở nước ngoài bằng các thứ tiếng Anh – Trung – Việt – Nhật – Hàn – Pháp về một nơi để tiện cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước có thể sử dụng dễ dàng. Thành viên Thư viện Nhân học có thể sử dụng không hạn chế, và hoàn toàn miễn phí toàn bộ dữ liệu và dịch vụ của thư viện Nhân học. Chi phí duy nhất cố định là 500,000 VNĐ (tương đương $23) một năm để trở thành thành viên của Thư viện Nhân học

Nhận thức được rằng, tự thân việc sưu tầm, lưu trữ tập trung, xử lý, và công bố tư liệu tuy hữu ích, nhưng KHÔNG ĐỦ để thúc đẩy và tạo ra những thay đổi thiết thực trong hoạt động nghiên cứu khoa học xã hội và trong bản thân đời sống xã hội. Những người sáng lập Thư viện chủ trương phát triển Thư viện Nhân học thành cầu nối tri thức, giới thiệu những nghiên cứu mới nhất về Việt Nam từ khắp nơi trên thế giới bằng tiếng Việt. Đồng thời giới thiệu nghiên cứu mới xuất bản ở Việt Nam bằng tiếng Việt ra nước ngoài bằng tiếng Anh.

Thư viện sẽ tham gia tích cực vào thảo luận và giải quyết những vấn đề xã hội một cách khách quan, trung lập, từ góc độ học thuật. Điều này sẽ góp phần thay đổi tích cực cách chúng ta tiếp nhận và thực hành nghiên cứu khoa học xã hội.

Những công việc kể trên được kỳ vọng sẽ đem đến những thay đổi thực chất trong nghiên cứu khoa học xã hội, đảm bảo cho những nhà nghiên cứu trong nước được quyền tiếp cận BÌNH ĐẲNG tư liệu nghiên cứu như những đồng nghiệp ở nước ngoài.

Không có bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin và tư liệu nghiên cứu thì không có nghiên cứu tốt, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Không có nghiên cứu đạt tiêu chuẩn quốc tế, không có chuyện nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục khoa học xã hội. Việc đem đến sự BÌNH ĐẲNG trong việc tiếp cận tư liệu nghiên cứu kèm theo những chỉ dẫn tư liệu hữu ích cho những nhà nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước sẽ giúp Việt Nam có được những trường Đại học bình thường như bao Đại học khác trong khu vực và trên thế giới.

Đây sẽ là Thư viện phục vụ nghiên cứu Việt Nam có quy mô lớn nhất thế giới. Tính đến ngày 12 tháng 03 năm 2017, Thư viện đã có 170 ngàn đầu tư liệu đã qua chỉnh lý với hơn 10 triệu đầu tư liệu đã và đang trong quá trình chỉnh lý. Dữ liệu thô của thư viện hiện nay đã được số hóa và sưu tầm từ khắp nơi trên thế giới về hiện giờ đã chạm mức: 96 ngàn GB.

Dữ liệu của Thư viện hiện đang được cập nhật hàng ngày bởi những cộng tác viên và nhân viên Thư viện. 

CÁC DỊCH VỤ THƯ VIỆN CUNG CẤP

  • Kho tư liệu số hóa nghiên cứu về Việt Nam và phục vụ nghiên cứu Việt Nam trong và ngoài nước (miễn phí cho thành viên Thư viện). Kho tư liệu số hóa được cấu trúc theo một kiểu chưa từng có trước đây. Kho sách là tập hợp của nhiều account Google KHÔNG GIỚI HẠN DUNG LƯỢNG lại với nhau. Mỗi khi có người dùng mới tham gia, dữ liệu sẽ được copy toàn vẹn vào tài khoản của người dùng, đảm bảo dữ liệu của thư viện sẽ không bao giờ bị mất, và được nhân bản theo phương pháp giống như “nhân bản tế bào”.
  • Hỗ trợ tìm kiếm báo, tạp chí, sách vở, luận án nghiên cứu về Việt Nam ở nước ngoài (miễn phí cho thành viên Thư viện)
  • Dịch vụ đặt hàng số hóa những sách mới xuất bản về Việt Nam ở nước ngoài theo danh mục sách mới xuất bản có sẵn (miễn phí cho thành viên Thư viện). Danh mục này được cập nhật hàng ngày, hoàn toàn tự động, bao gồm thông tin xuất bản và mục lục những sách nghiên cứu mới xuất bản ở Bắc Mỹ và châu Âu.
  • Dịch vụ cung cấp tư liệu cho các dự án nghiên cứu trong và ngoài nước (chi phí thỏa thuận)

Toàn bộ tư liệu do Thư viện hỗ trợ người dùng lấy sẽ được đưa hoàn toàn vào thư viện để mọi thành viên khác đều có thể truy cập và sử dụng KHÔNG HẠN CHẾ.

VỀ MẶT TÀI CHÍNH

Nguồn thu của Thư viện đến từ: 

  • Nguồn thu do thành viên Thư viện đóng góp. Mỗi thành viên tham gia thư viện đóng 500 ngàn đồng 1 năm để có thể sử dụng toàn bộ dữ liệu thư viện.
  • Nguồn thu do ủng hộ và tài trợ của cá nhân – tổ chức trong và ngoài nước.
  • Nguồn thu từ việc tham gia các dự án trong và ngoài nước

Dự tính những nguồn thu trong tương lai:

  • Nguồn thu từ hoạt động xuất bản của thư viện (viết bài, dịch thuật, xuất bản tư liệu)
  • Nguồn thu từ bán quảng cáo trên website thư viện cho những bộ sưu tầm sách cổ miễn phí ở www.quochoc.org
  • Nguồn thu từ khai thác, phân tích dữ liệu thư viện bằng trí tuệ nhân tạo (Bigdata kết hợp với AI, đang xây dựng)
  • Nguồn thu từ việc xây dựng và thương mại hoá mã nguồn thư viện Nhân học. Biến mã nguồn thư viện Nhân học thành mã nguồn phổ biến cho các thư viện không giới hạn dung lượng khác trên thế giới.

Chi phí chính cho thư viện hiện giờ bao gồm:

  • Chi phí làm tài khoản Google không giới hạn dung lượng cho mỗi thành viên đăng ký: 200 ngàn đồng/ 1 tài khoản/ 1 năm (lấy từ chi phí hội viên do hội viên thư viện đóng góp hàng năm)
  • Chi phí cho các máy chủ đẩy và khai thác dữ liệu: gồm 6 VPS ($20 một tháng, 120 usd 1 năm), tổng cộng: 720 usd 1 năm (lấy từ chi phí do hội viên thư viện đóng góp)
  • Chi phí cho việc chỉnh lý tư liệu: 6 triệu/2 người/1 tháng = 72 triệu / 1 năm (lấy từ chi phí do hội viên thư viện đóng góp)
  • Chi phí duy trì domain và hosting cho website nhanhoc.org = 3 triệu/1 năm (domain và hosting) (do Nguyễn Phúc Anh chi)
  • Chi phí đầu tư xây dựng mã nguồn đặc thù cho thư viện, tổng đầu tư tính từ tháng 01 năm 2016 đến nay là 90 triệu đồng (vẫn còn tiếp tục – Nguyễn Phúc Anh chi không cần hoàn lại).
  • Chi phí hỗ trợ tình nguyện viên mượn sách thư viện, mang đi scan, chỉnh lý và gửi về Việt Nam: $20/1 đầu sách (lựa chọn kĩ càng, yêu cầu phải là sách hay và mới xuất bản). Trong tương lai, TOÀN BỘ SỐ TIỀN còn dư của thư viện sau khi trừ hết các khoản chi phí khác sẽ lại được đầu tư để sao chụp thêm tư liệu quý hiếm từ khắp nơi trên thế giới để đưa về Thư viện (hiện đang do Nguyễn Phúc Anh chi trả)

Tổng thu của thư viện: 152 triệu đồng (thư viện hiện có 292 thành viên) tính đến ngày 13 tháng 03 năm 2017.

Chi phí đầu tư còn lại được đầu tư bằng tiền cá nhân của Nguyễn Phúc Anh (không cần hoàn lại). Tính từ tháng 03 năm 2016 đến nay, tổng chi phí đã đầu tư là 325 triệu đồng.

VỀ MẶT TƯ LIỆU CỦA THƯ VIỆN

Trên nguyên tắc, Thư viện Nhân học sẽ sưu tầm toàn bộ tư liệu về Việt Nam hoặc phục vụ nghiên cứu Việt Nam xuất bản bằng các thứ tiếng Anh, Pháp, Trung, Hàn, Nhật, Việt Nam, Hán Nôm. Song, trong giai đoạn đầu, Thư viện Tập trung kết tập những tài liệu:

  • Tư liệu MỚI NHẤT thuộc các phân ngành Khoa học Xã hội về Việt Nam xuất bản ở nước ngoài.
  • Tư liệu cổ quý hiếm liên quan đến Việt Nam ở nước ngoài
  • Tư liệu nghiên cứu xuất bản bằng tiếng Việt, ở Việt Nam.
  • Tư liệu phim ảnh phục vụ cho nghiên cứu Việt Nam
  • Tư liệu phục vụ cho việc tự học và nâng cao trình độ tiếng Anh.
  • Những tư liệu mà người dùng – thành viên Thư viện yêu cầu.

VỀ MẶT ĐĂNG KÝ THÀNH VIÊN

Khi đăng ký thành viên thư viện, Thư viện sẽ làm tài khoản Google KHÔNG GIỚI HẠN DUNG LƯỢNG và gửi thành viên sử dụng. 

Thành viên có thể chọn kết nối qua tài khoản Google có sẵn. Dung lượng Thư viện trong trường hợp này sẽ không chiếm dụng dung lượng tài khoản Google của mọi người.

Chi phí duy trì tài khoản 1 năm là 500 ngàn đồng Việt Nam. 

Về mặt chuyển khoản: có thể chuyển vào một trong số những tài khoản sau. Sau khi chuyển khoản, xin anh chị nhớ giữ giấy biên nhận hoặc chụp ảnh màn hình thông báo chuyển khoản.

(Xin anh chị ghi chú khi chuyển tiền để nhân viên của Thư viện Nhận ra chuyển khoản của anh chị)

VIETCOMBANK

Chủ tài khoản: VU THU HANG,  Số tài khoản: 0541000191660

Ngân hàng Vietcombank, chi nhánh Chương Dương

BIDV

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG.

Số tài khoản: 12310000708707

BIDV Quang Trung

SACOMBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG. Số Tài khoản: ‎020044241286.

Ngân hàng Sacombank, chi nhánh Long Biên

VIETINBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG

DDA 106003392248 Chi nhánh Hoàn Kiếm

TECHCOMBANK

Tên chủ tài khoản: VU THU HANG

Số Tài khoản: 19031418934550

Chi nhánh Hà Thành

NƯỚC NGOÀI

Phương án 1: Tài khoản Paypal npa@ussh.edu.vn

Phương án 2: Bank of America: Routing Number: 011000138, account number: 004662946236, account holder: Phuc Anh Nguyen, email ở BOA: npa@ussh.edu.vn

—————-

Mọi ý kiến, thắc mắc xin liên hệ email: me@nguyenphucanh.net

Trợ giúp kĩ thuật: Nguyễn Phúc Anh, Facebook:

https://www.facebook.com/anhnp86

Continue Reading

Forests, Spirits and High Modernist Development: A Study of Cosmology and Change among the Katuic Peoples in the Uplands of Laos and Vietnam

dynamiccontent.propertiesÅrhem, Nikolas

Uppsala University, Disciplinary Domain of Humanities and Social Sciences, Faculty of Arts, Department of Cultural Anthropology and Ethnology.
 2015 (English)Doctoral thesis, monograph (Other academic)
Abstract [en]

This thesis explores how Katuic-speaking indigenous groups in the Central Annamitic Cordillera of Vietnam and Laos understand their environment – hills, streams and forest. Katuic eco-cosmology assumes that the natural landscape is imbued with spirit agents, with whom people must continuously communicate lest misfortune will strike and their livelihoods fail. The thesis posits the hypothesis that these spirit beliefs, and a variety of taboo notions accompanying them, can be interpreted as expressions of a complex socio-environmental adaptation. Today, the indigenous groups in the study region are confronted with a massive development- and modernisation push on two fronts – that of the global development industry on the one hand, and the implementation of national development policies and programs as part of the high-modernist state project in communist Vietnam and Laos, on the other.

A second objective of the thesis, then, is to examine the effects of this multi-layered and multi-scaled confrontation on indigenous cosmology, livelihood and landscape. It is argued, this confrontation at the development frontier can be conceived of as an interface between different ontologies or reality posits – one animist, articulated in a relational stance towards the landscape; the other, a naturalist or rationalist ontology, expressed as an objectivist stance towards nature and embodied in the high-modernist development schemes and programs unfolding in the region with the aim of re-engineering its indigenous societies and exploiting its natural resources.

Large parts of the Central Annamites were severely impacted by the Vietnam War; uncounted numbers of minority people were killed, or had their villages destroyed or relocated while defoliants, bombs, and forest fires ravaged the landscape. In the decades that followed the war, the entire social and natural landscape has been reshaped by national development policies and the modernist visions that underpin them. The thesis attempts to understand this physical and cultural transformation of the landscape, focusing particularly on the gradual breakdown of the complex indigenous socio-religious institutions that appear to have played an important functional role in maintaining the pre-war structure of the landscape.

The thesis is based primarily on fieldwork carried out between 2004 and 2009 in the provinces of Quảng Nam and Thừa Thiên–Huế in Vietnam and Sekong in Laos.

See the full link here: http://www.diva-portal.org/smash/get/diva2:765756/FULLTEXT01.pdf

 

 

Continue Reading

Customary Law in Forest Resources Use and Management A Case Study among the Dzao and Thai People in North-West Vietnam

0571_Cover_Customary_laforest_management_Vietnam

Vietnam is home to 53 ethnic minority groups who mostly live in the forested uplands. Numbering over twelve million people, they highly depend on forests for their livelihood and development. But the pressures on these forests are ever increasing, posing a serious threat to the lives and stability of millions of people.

Since the early 1990s, Vietnam has attempted to address deforestation by decentralizing forest management. Under the forest land allocation programme long-term use rights over forest land are provided to individual households and communities. However, while the programme has been successful in improving forest conservation, the benefits of the programme have been unevenly distributed. Especially in mountainous areas, where the majority of ethnic minorities live, its implementation has been slow and many communities remain without secure tenure rights.

One of the key challenges for the forest land allocation programme is how customary land rights and institutions can be formally recognized under statutory law. Vietnam’s forest law recognizes local forest users as rights holders and customary practices and culture as the basis for assigning forests to these people. There is however a considerable discrepancy between the law on paper and its implementation on the ground.

Continue Reading

Tìm hiểu một số giá trị văn hóa của lễ tế giao ở Huế triều Nguyễn

sshot-2

KỶ YẾU HỘI THẢO QUỐC TẾ

“Văn hoá tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hoá”

ĐH Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Hà nội, 2010

Văn hoá tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hoá là Kỉ yếu Hội thảo quốc tế của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, với sự tài trợ của Viện Khoa học Tôn giáo CHLB Đức (Missionswissenschaftliches Institut Missio Aachen e. V, viết tắt là MWI) xuất bản năm 2010. Đây là hội thảo đầu tiên về lĩnh vực tôn giáo học được tổ chức tại Đại học Quốc gia Hà Nội.

Là ấn phẩm đầu tay của Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Đương đại, cuốn Kỉ yếu thể hiện những nỗ lực của Trung tâm trong việc thúc đẩy nghiên cứu tôn giáo vốn có ở Việt Nam từ thời thuộc địa, nhưng vì nhiều lí do khách quan và chủ quan bị gián đoạn trong những năm chiến tranh và mới được tái khởi sắc từ hai thập kỉ nay. Tuy mới ở tuổi thứ 3, nhưng một số các chương trình của Trung tâm như giáo sư thỉnh giảng, toạ đàm hội thảo, đào tạo bồi dưỡng cán bộ đã dần đi vào định kì. Năm 2011, hứa hẹn có thêm chương trình xây dựng thư viện.

Với trên 650 trang, cuốn kỉ yếu tuyển chọn hơn 30 bài viết từ các học giả Việt Nam và nước ngoài gồm 2 mảng vấn đề chính Những vấn đề lí thuyết cơ bản của văn hoá tôn giáo và Một số vấn đề văn hoá Kitô giáo, văn hoá Phật giáo. Nhiều bài viết như “Smith, Lonergan và Đức tin” của GS. Kim Chae Young (Đại học Sogang, Hàn Quốc), “Tuyên xưng chân lí và tuyên xưng đức tin trong tôn giáo” của GS. Trần Văn Đoàn (Đại học Quốc gia Đài Loan), “Tôn giáo trong tiến trình toàn cầu hoá” của GM. Phaolo Nguyễn Thái Hợp, “Công giáo và Toàn cầu hoá” của LM. Thiện Cẩm, “Văn hoá và Tôn giáo” của GS. Đỗ Quang Hưng, “Tâm thức tôn giáo và lí thuyết thế tục hoá ở châu Á và Việt Nam” của TS. Nguyễn Xuân Nghĩa, vv… đặt ra nhiều vấn đề có tính gợi mở giúp chúng ta đánh giá một cách khoa học quan hệ giữa văn hoá và tôn giáo cũng như các lĩnh vực văn hoá tôn giáo cụ thể trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay.

sshot-21

Bạn đọc quan tâm có thể tải về toàn văn bài viết này từ đường dẫn sau: Tìm hiểu một số giá trị văn hóa của lễ tế giao ở Huế triều Nguyễn

Continue Reading

LÀNG NGƯỜI TÀY TRONG BỐI CẢNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA VÀ HỘI NHẬP (Tổng luận)

sshot-1

 

Đây là bài viết thuộc SỐ CHUYÊN ĐỀ CỦA TẠP CHÍ DÂN TỘC HỌC: “LÀNG NGƯỜI TÀY Ở LẠNG SƠN”. Số chuyên đề này phản ánh kết quả của “Đề án nâng cao năng lực nghiên cứu cho cán bộ trẻ Viện Dân tộc học (2012 – 2015)”, đăng 10 bài liên quan đến làng Pò Cại thuộc xã Gia Cát, huyện Cao Lộc.

sshot-2

sshot-3

Thành viên nào quan tâm và muốn biết rõ hơn, có thể đọc bài, theo những đường link sau đây: Tong luan Lang nguoi Tay o Lang Son

Continue Reading

[Handouts] ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU PHÒNG “NGHIÊN CỨU CÁC DÂN TỘC THUỘC NGÔN NGỮ TÀY – THÁI KAĐAI” (2016 – 2020)

Viện DTH

HỘI NGHỊ THÔNG BÁO DÂN TỘC HỌC 2015

Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2015

sshot-9

Báo cáo được tác giả trình bày tại HỘI NGHỊ THÔNG BÁO DÂN TỘC HỌC 2015. Thành viên quan tâm có thể tham khảo  trình bày của tác giả từ đường dẫn sau:

TS. Trần Mai Lan, Thong bao DTH 2015 – Phòng Tay Thai-1 [Compatibility Mode]

Continue Reading
1 2 3 27